17:14 27/04/2012
Cỡ chữ

TỈNH ỦY BÌNH ĐỊNH                                                                                                                                  ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

                   *                                           Quy Nhơn, ngày 25 tháng 5 năm 2011

 

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

5 NĂM 2011 - 2015 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020

(Dự thảo)

 

I. Tình hình thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế

Thực hiện Quyết định số 113/2005/QĐ-TTg ngày 20/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 16/8/2004 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ đến năm 2010, UBND tỉnh Bình Định đã ban hành Chương trình hành động (CTHĐ) thực hiện Quyết định 113 với một số nội dung chủ yếu sau:

1. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2006 - 2010 là 11 - 12%, trong đó tỷ trọng trong GDP của nông lâm ngư nghiệp 5 - 5,5%, công nghiệp - xây dựng 18-20% và dịch vụ 11-12%; giai đoạn 2010-2020 là 9 - 10 %.

2. Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2006 - 2010 với nông lâm ngư nghiệp chiếm 27%, công nghiệp - xây dựng chiếm 39% và dịch vụ chiếm 34%.

3. Tốc độ tăng trưởng bình quân công nghiệp từ 16,1%% (giai đoạn 2001 - 2005) và tổng giá trị SXCN năm 2005 đạt 3.554 tỷ đồng (giá cố định 94)  lên 24% (giai đoạn 2006 - 2010) và tổng giá trị SXCN năm 2010 đạt 10.400 tỷ đồng (giá cố định 94)

4. Tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người/năm từ 148 đô la Mỹ năm 2005 (230 triệu USD) lên 364 đô la Mỹ năm 2010 (620 triệu USD) và .1.000 dô la Mỹ năm 2020 (1.750 triệu USD).

5. Tăng thu ngân sách nhằm đảm bảo các nhiệm chi của tỉnh và có đóng góp cho ngân sách trung ương với mức tăng trưởng đến năm 2010 đạt 1.700 tỷ đồng và gấp 2 lần so với hiện nay, trong đó tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển chiếm từ 37 đến 40%.

6. Nâng dần tỷ lệ lao động qua đào tạo từ khoảng 21% năm 2005  lên 40% vào năm 2010 và 50% vào năm 2020.

7. Phấn đấu đến năm 2010 đạt tỷ lệ đô thị hóa là 34 - 35%. Giảm tỷ lệ lao động không có việc làm ở thành thị từ 5,24% hiện nay xuống còn 4% năm 2010, phấn đấu mỗi năm giải quyết cho 23 - 25.000 chỗ làm việc mới. Nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn từ 75,3% hiện nay lên 80% vào năm 2010.

8. Nâng tỷ lệ độ che phủ của rừng từ 40% năm 2005 lên 43% năm 2010 và 48% năm 2020. Nâng tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sạch từ 65% năm 2005 lên 80% năm 2010 và 100% năm 2020.

9. Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 5% năm 2005 xuống dưới mức bình quân của cả nước.

Trong quá trình triển khai thực hiện Quyết định 113 của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Bình Định đã có những thuận lợi cơ bản: đất nước ổn định về chính trị, quốc phòng - an ninh được đảm bảo; công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của tỉnh.

Bên cạnh những thuận lợi, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới trong vài năm gần đây; tình hình lạm phát, suy giảm kinh tế trong nước; thị trường xuất khẩu và thu hút đầu tư gặp khó khăn; những yếu kém của tỉnh chậm được khắc phục; thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra gây hậu quả nặng nề đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong tỉnh, đã tác động lớn đến kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Trước tình hình đó, các cấp, các ngành, các địa phương trong tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức; Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát huy tối đa nguồn nội lực đi đôi với tích cực tranh thủ các nguồn ngoại lực; lựa chọn các vấn đề trọng tâm, lĩnh vực trọng điểm để xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể; phân công chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện và đạt được những thành tựu quan trọng.

1. Về phát triển kinh tế:

Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng. Tốc độ tăng tổng sản phẩm địa phương (GDP) bình quân 5 năm đạt khoảng 10,9% (CTHĐ của tỉnh đề ra là 11-12%), so với giai đoạn 2001 - 2005 cao hơn 2%; trong đó nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân 7,2% (CTHĐ 5-5,5%), công nghiệp và xây dựng 15,4% (CTHĐ 19-20%), dịch vụ 11,6% (CTHĐ 11-12%). Thu ngân sách tăng bình quân 22,6%/năm; GDP bình quân đầu người 940 USD.

Cơ cấu kinh tế (năm 2010): nông, lâm, ngư nghiệp 35,7% (CTHĐ 27%); công nghiệp - xây dựng 27,2% (CTHĐ 39%); dịch vụ 37,1% (CTHĐ 34%). Cơ cấu lao động xã hội có bước chuyển dịch theo hướng giảm dần trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và tăng trong lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ.

Tỉnh đã đẩy mạnh quy hoạch phát triển các khu, cụm công nghiệp; điều chỉnh, bổ sung chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề; ban hành các cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư; xây dựng cơ sở hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước; hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khôi phục và phát triển sản xuất sau thời kỳ suy giảm kinh tế… Bên cạnh các khu công nghiệp Phú Tài, Long Mỹ tiếp tục phát triển, các khu công nghiệp Nhơn Hoà, Hoà Hội đang được đầu tư xây dựng; một số cụm, điểm công nghiệp, làng nghề ở các huyện, thành phố đã đi vào hoạt động, phát huy hiệu quả, thu hút các cơ sở, doanh nghiệp vào đầu tư sản xuất, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động trong  tỉnh. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 16% (CTHĐ 24%) và tổng giá trị SXCN năm 2010 đạt 6.544 tỷ đồng giá cố định 94 (CTHĐ 10.400 tỷ đồng).

Đối với Khu kinh tế Nhơn Hội, đã hoàn thành công tác quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch, lập quy hoạch chi tiết các khu chức năng trong Khu kinh tế; đang tập trung đẩy nhanh tiến độ công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư, đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, giao thông, hệ thống cấp nước, cấp điện, viễn thông… Công tác xúc tiến đầu tư được chú trọng, đã thu hút một số doanh nghiệp đầu tư vào các khu chức năng, xây dựng và kinh doanh hạ tầng các khu công nghiệp trong Khu kinh tế; một số dự án công nghiệp đã và đang được triển khai xây dựng, bắt đầu đi vào hoạt động.

Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và các doanh nghiệp về hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh. Việc liên kết kinh tế, hợp tác đầu tư với các địa phương, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước được chú trọng; hợp tác phát triển toàn diện giữa tỉnh ta với các tỉnh Nam Lào đạt được một số kết quả bước đầu. Giá trị tăng thêm của các ngành dịch vụ tăng bình quân hằng năm 11,6%. Hoạt động nội thương tăng trưởng khá (bình quân hàng năm tăng 23,2%). Mặc dù ảnh hưởng suy giảm kinh tế thế giới nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm qua tăng bình quân 15,9%/năm, đạt 420 triệu USD (CTHĐ 620 triệu USD). Hạ tầng du lịch tiếp tục được đầu tư xây dựng; lượng khách du lịch tăng bình quân hằng năm 22,1%, doanh thu du lịch tăng 24,8%. Dịch vụ vận tải hàng hoá và vận chuyển hành khách phát triển mạnh. Hàng thông qua cảng biển trong 5 năm ước đạt 19,8 triệu TTQ, tăng 75,2% so với 5 năm trước, trong đó cảng Quy Nhơn 17,2 triệu TTQ, cảng Thị Nại 2,6 triệu TTQ. Dịch vụ bưu chính - viễn thông, hoạt động tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn... tiếp tục phát triển.

Thu ngân sách luôn vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra hàng năm (tăng bình quân 22,6% /năm); thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2010 đạt 2.840 tỉ đồng (CTHĐ 1.700 tỉ đồng), trong đó thu nội địa 1.920 tỉ đồng, gấp 2,25 lần so với năm 2005.

2. Về xã hội:

Cùng với việc chỉ đạo quyết liệt triển khai các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, tỉnh đã tích cực huy động các nguồn lực tập trung khắc phục hậu quả các đợt thiên tai, bão lũ, ổn định sản xuất và đời sống nhân dân. Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo, thực hiện chính sách với người và gia đình có công đạt kết quả tích cực. Trong 5 năm qua đã đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghề trên 10 vạn lượt người; giải quyết việc làm cho hơn 12 vạn lao động (CTHĐ 11,5 - 12,5 vạn), tỷ lệ lao động được đào tạo nghề là 36% (CTHĐ 40%). Tỉ lệ người lao động thất nghiệp so với lực lượng lao động trong tỉnh giảm 3,57% (CTHĐ 4%); đã huy động được nhiều nguồn vốn trong xã hội cho công tác giảm nghèo, tỉ lệ hộ nghèo đến năm 2010 còn 17,59% (theo tiêu chí mới), so với mức bình quân của cả nước (14 – 16%) thì vẫn còn xấp xỉ mức bình quân của cả nước. Đến cuối năm 2010, đã cơ bản hoàn thành kế hoạch hỗ trợ xây dựng nhà ở cho đối tượng chính sách, hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số có nhà ở đơn sơ. Công tác thực hiện chính sách đối với người có công với nước đạt kết quả tích cực. Các hoạt động nhân đạo, từ thiện được đẩy mạnh. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung, đời sống nhân dân trong tỉnh ổn định, một bộ phận được cải thiện.

2. Về phát triển đô thị và kết cấu hạ tầng:

Không gian đô thị trên địa bàn tỉnh tiếp tục được mở rộng; tỉ lệ đô thị hóa đạt khoảng 30% (CTHĐ là 34 - 35%). Dân cư đô thị sử dụng nước sạch đạt 48%. Hạ tầng đô thị các thị trấn Bình Định, Bồng Sơn, Phú Phong và nhiều thị trấn, thị tứ khác được đầu tư xây dựng, nâng cấp; nhiều cụm, điểm công nghiệp, làng nghề được hình thành; thương mại, dịch vụ phát triển; văn hoá - xã hội có tiến bộ. Thành phố Quy Nhơn đã được quy hoạch, mở rộng không gian, đầu tư xây dựng mới các công trình hạ tầng, các trung tâm thương mại, dịch vụ; nâng cấp, mở rộng cảng biển... bước đầu phát huy vai trò trung tâm thương mại - dịch vụ của tỉnh, vùng.

Một số cụm, điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, các cơ sở dịch vụ, thương mại được xây dựng, khôi phục, phát triển, đã góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Hệ thống kết cấu hạ tầng vùng đồng bằng tiếp tục được đầu tư xây dựng, 99% số thôn có điện lưới, 85,7% số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh (CTHĐ 80%). Hầu hết các tuyến đường giao thông liên xã, liên thôn đã được bê tông hóa. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng được chú trọng. Độ che phủ rừng tăng từ 41,7% năm 2005 lên khoảng 45,7% năm 2010 (CTHĐ 44%).

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được đầu tư xây dựng và phát huy hiệu quả. Tổng vốn đầu tư huy động trên địa bàn tăng nhanh, 5 năm đạt trên 37.837 tỉ đồng, chiếm tỉ trọng bình quân 40,3%/GDP, tốc độ tăng bình quân 19,3%/ năm, gấp 2,63 lần tổng vốn đầu tư của 5 năm trước. Các công trình kết cấu hạ tầng: giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, trường học, cơ sở y tế, văn hóa, hạ tầng Khu kinh tế Nhơn Hội và các khu, cụm công nghiệp, cảng biển... tiếp tục  được đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng. Nhiều công trình quan trọng đã hoàn  thành, đưa vào sử dụng như: cầu đường Quy Nhơn - Nhơn Hội, hồ Định Bình, đường Xuân Diệu, đường DT 639, đường Gò Găng - Cát Tiến, tượng đài Hoàng đế Quang Trung (Bảo tàng Quang Trung), Nhà văn hoá Trung tâm tỉnh... Thành phố Quy Nhơn được công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh; các thị trấn Bình Định, Bồng Sơn được công nhận là đô thị loại IV; đang tiếp tục triển khai công tác quy hoạch xây dựng thị trấn Phú Phong lên đô thị loại IV.

II. Đánh giá những tiềm năng, thế mạnh và khó khăn, thách thức

1. Những tiềm năng, thế mạnh của tỉnh:

Bình Định là một trong 5 tỉnh nằm trong địa bàn vùng KTTĐ miền Trung. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 6025 km2, dân số gần 1,5 triệu người, chiếm 1,8% diện tích và 1,9% dân số so với cả nước, chiếm 18,2% diện tích và 22,1% về dân số vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, nam giáp tỉnh Phú Yên, phía tây giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp biển Đông. Toàn tỉnh có 159 xã, phường, thị trấn thuộc 10 huyện, 01 thành phố.

Bình Định có vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế xã hội, vị trí và vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh và quốc phòng. Thực tế những năm qua, lợi thế này đã được tỉnh khai thác tương đối tốt và sẽ còn được phát huy trong tương lai.

Với vị trí trung tâm trên các tuyến giao lưu quốc tế và liên vùng, tuyến trục Bắc Nam và Đông Tây của miền Trung, gần đường hàng hải quốc tế, là cửa ngõ hướng biển của các nước trong Tiểu khu vực Mê Kông mở rộng, đặc biệt là với các nước Lào, Campuchia và các tỉnh Đông Bắc Thái Lan:

+ Bình Định là đầu mối phía Đông của đường 19 là con đường ngang nối giữa Duyên Hải và Tây Nguyên tốt nhất có thể đáp ứng vận chuyển của ô tô vận tải container từ cảng Quy Nhơn qua các cửa khẩu quốc tế và ngược lại.

+ Nằm ở phía Nam của vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, Bình Định nối liền với các tỉnh phía Bắc, phía Nam qua quốc lộ 1 và đường sắt Bắc - Nam. Sân bay Phù Cát hiện có các chuyến bay tới Hà Nội qua Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, tỉnh có bờ biển dài 134 km, vùng lãnh hải 2.500 km2 với vùng đặc quyền kinh tế 40.000 km2 có cảng Quy Nhơn và tương lai gần có cảng Nhơn Hội với hậu phương cảng rộng lớn và hấp dẫn mạnh đối với các tỉnh Tây Nguyên, Nam Lào và Đông bắc Campuchia - là những khu vực có nhiều tiềm năng to lớn về hàng hóa lâm sản, cây công nghiệp, khoáng sản...

Vị trí địa lý trên tạo điều kiện thuận lợi để Bình Định khai thác các thế mạnh về tiềm năng lao động, đất đai, các nguồn tài nguyên cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư, giao lưu thông thương với các tỉnh trong nước và quốc tế, hòa nhịp với xu thế phát triển chung của cả nước để Bình Định trở thành một trong những tỉnh phát triển ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội đã bước đầu được đầu tư phát triển và tăng cường năng lực với hệ thống cảng biển, đường giao thông, đường sắt, đường hàng không; mạng lưới điện, bưu điện và viễn thông quốc tế, tạo nền cho phát triển thời kỳ tới. Yếu tố này cộng với vị trí địa kinh tế, địa chính trị và sự hình thành một số địa bàn và tuyến lực trọng điểm như hệ thống các khu công nghiệp; khu du lịch, khu kinh tế Nhơn Hội tạo cho Bình Định có sự hấp dẫn về đầu tư, thu hút nguồn vốn từ quỹ đất và các nguồn lực của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài vào đầu tư và kinh doanh trên đất Bình Định.

- Tuy chưa thật hiện đại nhưng đã xây dựng được ở một mức độ nhất định hệ thống cảng biển, đường giao thông, đường sắt, đường hàng không; mạng lưới điện, bưu điện và viễn thông quốc tế. Năng lực sản xuất và kết cấu hạ tầng đã phát triển một bước. Những yếu tố đó cộng với vị trí của một tỉnh liền kề với các tỉnh thuộc lưu vực sông Ba mở rộng, đã và đang có những liên kết tỉnh trong cuốn hút sự phát triển và hỗ trợ phát triển các tỉnh này tạo ra những liên kết và hợp tác phát triển mới trong tương lai.

- Hệ thống các khu công nghiệp được phát triển; có thành phố Quy Nhơn với thế mạnh phát triển công nghiệp, trung tâm phát luồng bán buôn dịch vụ cảng biển, dịch vụ hàng không và khai thác tổng hợp kinh tế biển cùng với hình thành khu kinh tế tổng hợp Nhơn Hội đang và sẽ tạo ra những lợi thế phát triển mới, tạo ra địa bàn hấp dẫn và thu hút đầu tư.

- Bên cạnh các di tích lịch sử, Bình Định có một hệ thống cảnh quan biển - đảo - núi - đầm hồ cùng với nhiều tiềm năng văn hóa phi vật thể khác như môn phái võ thuật Tây Sơn, nghệ thuật hát tuồng, bài chòi độc đáo ...để phát triển du lịch hòa nhập vào các chương trình du lịch “con đường di sản miền Trung” và “con đường xanh Tây Nguyên”

- Đa dạng về địa hình, phong phú về khí hậu, hình thành nhiều vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau, cho phép phát triển một nền nông nghiệp sinh thái toàn diện và tổng hợp.

- Bình Định có trường đại học đang phát triển dần theo hướng đào tạo đa ngành cho khu vực, đã có một đội ngũ cán bộ khoa học khá đông có trình độ chuyên môn khá, đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao, đa số người lao động đã tiếp cận với nền sản xuất hàng hóa. Trình độ dân trí khá cao, một bộ phận dân cư có trình độ sản xuất hàng hóa, năng động với cơ chế thị trường.

Đối với Bình Định, với những tiềm năng và thế mạnh của mình về phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ và nhiều lĩnh vực khác thời gian tới sẽ có thể thu hút vốn đầu tư từ FDI và ODA. Trong đó nguồn vốn ODA là cơ sở để đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng và kinh doanh phát triển một số ngành, lĩnh vực mà tỉnh có thể kêu gọi và thu hút nguồn vốn này.

Trong thời gian qua, trên cơ sở những quy định của Trung ương, tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Bước đầu, tỉnh đã có một số cơ chế, chính sách triển khai các nhiệm vụ kinh tế - xã hội và thu hút đầu tư thích ứng với yêu cầu thực tiễn. Công tác chỉ đạo điều hành của chính quyền các cấp và đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước có chuyển biến, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Đội ngũ cán bộ, lực lượng lao động trong tỉnh đã được nâng lên một bước về năng lực, nhận thức, trình độ quản lý, chuyên môn, thực hiện nhiệm vụ ngày càng tốt hơn.

2. Những khó khăn, thách thức:

Bên cạnh đó, tỉnh đang gặp nhiều khó khăn về đầu tư phát triển do nguồn lực của địa phương rất hạn hẹp. Nằm cách xa hai trung tâm kinh tế sôi động và phát triển mạnh là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội nên Quy Nhơn bị hạn chế trong nhiều lĩnh vực kể cả giao thông, đặt biệt là theo đường hàng không, dẫn đến nhiều thách thức trong việc kêu gọi vốn đầu tư, tìm kiếm thị trường nội địa và quốc tế.

- Kinh tế phát triển chưa bền vững; tăng trưởng kinh tế đạt thấp so với kế hoạch đề ra; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; chất lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm không cao.

Việc đầu tư phát triển hạ tầng, đền bù, giải toả, tái định cư, giao đất cho các doanh nghiệp tại các khu, cụm công nghiệp thiếu tập trung, kiên quyết, nhất quán; chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư thường xuyên thay đổi, bổ sung, gây khó khăn cho công tác giải phóng mặt bằng. Tiến độ triển khai một số dự án hạ tầng kỹ thuật không theo đúng kế hoạch; công tác thu hút đầu tư gặp nhiều khó khăn, hiệu quả thấp, nhất là thu hút đầu tư nước ngoài. Đối với Khu kinh tế Nhơn Hội, tuy đã tập trung huy động nhiều nguồn lực nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng, nhưng do chưa lường hết được những khó khăn do tác động của suy giảm kinh tế thế giới, vấn đề địa hình, môi trường, cùng với những yếu kém trong quá trình chỉ đạo, điều hành công tác giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng và chủ trương cho các doanh nghiệp tận thu ti tan trong Khu kinh tế... đã làm chậm tiến độ xây dựng hạ tầng và thu hút đầu tư.

Chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi còn chậm, chưa vững chắc. Năng suất, chất lượng một số cây trồng, vật nuôi, hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác chưa cao. Việc quy hoạch phát triển các vùng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến nhìn chung hiệu quả còn thấp. Việc lựa chọn phát triển một số cây trồng, vật nuôi có loại chưa căn cứ vào điều kiện thổ nhưỡng của tỉnh và thị trường tiêu thụ; mặt khác, công tác lãnh đạo, chỉ đạo chưa chặt chẽ, hạ tầng vùng nguyên liệu yếu kém, cơ chế, chính sách hỗ trợ chưa đồng bộ, kịp thời... dẫn đến một số chương trình, dự án về cây trồng, vật nuôi không thành công. Công tác quản lý, bảo vệ rừng còn nhiều hạn chế. Công tác trồng rừng cảnh quan, rừng phòng hộ tiến hành chậm. Chỉ đạo xử lý ô nhiễm môi trường, lấn chiếm đất đai, quản lý khai thác tài nguyên, khoáng sản chưa chặt chẽ, kiên quyết; việc khai thác tài nguyên, khoáng sản chưa gắn với bảo vệ môi trường, an sinh xã hội, có nơi để xảy ra tình hình phức tạp kéo dài, gây hậu quả xấu. Việc chỉ đạo đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế hợp tác chưa tập trung đúng mức. Tiềm năng du lịch chưa được khai thác có hiệu quả; sản phẩm du lịch còn nghèo nàn. Công tác quản lý đầu tư xây dựng chưa chặt chẽ. Tiến độ xây dựng một số công trình trọng điểm chậm. Công tác quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch có mặt không phù hợp; công tác chỉnh trang đô thị chưa đáp ứng yêu cầu; hạ tầng đô thị còn nhiều vấn đề bức xúc. Kinh tế - xã hội các vùng trong tỉnh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng.

- Chất lượng giáo dục toàn diện chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác quản lý giáo dục chậm đổi mới. Do chưa tính hết những đặc điểm, khó khăn của một số vùng trong tỉnh, nhất là miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và một số yếu tố khác nên việc đề ra mục tiêu phổ cập giáo dục bậc trung học tính khả thi thấp, kết quả thực hiện không đạt kế hoạch đề ra. Giáo dục đại học và đào tạo nghề chưa gắn kết với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Kết quả thực hiện chính sách đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao và thu hút nhân tài còn hạn chế. Chưa có biện pháp huy động tối đa các nguồn lực của xã hội để chăm lo sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Hiệu quả ứng dụng các đề tài nghiên cứu khoa học - công nghệ vào thực tiễn ở một số lĩnh vực còn thấp. Việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin còn chậm.

- Công tác quản lý các hoạt động văn hóa có mặt còn bất cập. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở một số nơi còn nặng về hình thức. Một số bộ môn thể thao thành tích cao phát triển thiếu ổn định. Chất lượng khám, chữa bệnh ở tuyến huyện và cơ sở nhiều mặt còn hạn chế. Tình trạng quá tải ở các bệnh viện công chưa được khắc phục. Quản lý hành nghề y dược và hoạt động khám chữa bệnh tư nhân chưa chặt chẽ. Tiêu cực trong khám chữa bệnh, thiếu trách nhiệm và giảm sút y đức của một số nhân viên y tế gây bức xúc trong nhân dân. Xã hội hoá trên các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục - đào tạo, thể thao chưa đạt yêu cầu. Kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo chưa vững chắc; tỉ lệ hộ nghèo ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn cao; một bộ phận người lao động thiếu việc làm, nhất là lao động ở nông thôn; đời sống nhân dân miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, nguy cơ tái nghèo còn cao.

III. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020

Trên cơ sở đánh giá những tiềm năng, thế mạnh và những khó khăn, thách thức của tỉnh, trong giai đoạn tiếp theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh được xác định như sau: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; phát huy nội lực, tranh thủ tối đa các nguồn ngoại lực; khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tỉnh; tích cực thu hút đầu tư, liên kết, hợp tác với các địa phương, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh nhà, trong đó tập trung phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao, hiệu quả và bền vững. Kết hợp tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, quy mô đô thị theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tương đối tỷ trọng nông, lâm, thủy sản trong cơ cấu kinh tế. Phấn đấu đến năm 2020, Bình Định trở thành tỉnh có nền công nghiệp hiện đại và là một trong những trung tâm phát triển về kinh tế - xã hội, đóng góp tích cực vào sự phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và cả nước; đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh và quốc phòng luôn bảo đảm. Các mục tiêu phát triển cụ thể:

- Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ năm 2011 đến năm 2020 đạt 14 - 16%; trong đó, thời kỳ  2011 - 2015 là 13-14% và thời kỳ 2016 - 2020 là 16%. GDP bình quân đầu người năm năm 2015 là 42 triệu đồng (tương đương với 2.000 USD) và năm 2020 trên 80 triệu đồng (tương đương 4.000 USD);

- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, cụ thể: năm 2015 tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 36,1%, ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 26-26,5%, ngành dịch vụ chiếm 36,1%; đến năm 2020 tỷ trọng này tương ứng là: 43,0% - 16,0% - 41,0%;

- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 2,8 tỷ USD giai đoạn 5 năm 2011-2015 và đạt 6 tỷ USD giai đoạn 5 năm 2016-2020;

- Tỷ lệ đô thị hoá đạt 40% vào năm 2015 và năm 2020 là 52%;

- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 47% vào năm 2015 và  năm 2020 trên 50%;

- Giảm tỷ suất sinh hàng năm 0,2 - 0,3 ‰ trong thời kỳ 2011 - 2015 và ổn định dân số tự nhiên sau năm 2015;

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 8% vào năm 2015 (chuẩn nghèo của giai đoạn 2011-2015) và cơ bản không còn hộ nghèo vào năm 2020. Đến năm 2015 khoảng 70% dân cư đô thị sử dụng nước sạch, 95% dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh; năm 2020 đảm bảo 100% dân cư có nguồn nước sạch cho sinh hoạt;

- Phấn đấu nâng số lượng lao động được giải quyết việc làm lên 25.000 - 30.000 lao động mỗi năm thời kỳ 2011-2020; trong đó, nhu cầu việc làm của lao động trong tỉnh hàng năm là 16.000 - 17.000 lao động.

- Đến năm 2015 có trên 95% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế và tiến tới hoàn thành chương trình chuẩn quốc gia về y tế xã theo quy định. Phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em (dưới 5 tuổi) suy dinh dưỡng đến năm 2015 còn dưới 17%, và còn dưới 5% và năm 2020.

1. Về phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:

- Phấn đấu mức tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất ngành công nghiệp thời kỳ 2011 - 2015 là 20 - 21%/năm và thời kỳ 2016 - 2020 là 24%/năm;

- Tập trung đầu tư, đẩy nhanh phát triển Khu kinh tế Nhơn Hội nhằm tạo bước đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Phấn đấu đến năm 2015, giá trị sản xuất công nghiệp trong Khu kinh tế chiếm khoảng 20% tổng giá trị sản xuất công nghiệp và 10% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Sớm hoàn thành quy hoạch chi tiết khu đô thị mới Nhơn Hội và huy động các nguồn vốn, các hình thức đầu tư xây dựng khu đô thị mới, khu đô thị - dịch vụ Cát Tiến, Nhơn Lý; xây dựng, đưa vào khai thác một số dự án du lịch biển, du lịch sinh thái tuyến Nhơn Lý - Cát Tiến và các vùng phụ cận Khu kinh tế

- Phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư kết cấu hạ tầng, triển khai các dự án trong các khu, cụm công nghiệp. Trong 5 năm đến, cùng với đầu tư hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp Phú Tài, Long Mỹ, tập trung xây dựng và thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp Nhơn Hoà, Hoà Hội, Bình Nghi - Nhơn Tân, Cát Trinh và các cụm công nghiệp ở các huyện, thành phố. Ưu tiên thu hút các dự án có quy mô lớn, thiết bị công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, tạo bước chuyển dịch mạnh cơ cấu sản xuất công nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đến năm 2010, các khu công nghiệp tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp chiếm khoảng 25% và kim ngạch xuất khẩu khoảng 30% so với toàn tỉnh;

- Phấn đấu đưa công nghiệp phát triển nhanh hơn nữa dựa trên các ngành nghề lợi thế: chế biến thủy sản, chế biến nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh các ngành sản xuất: tân dược, giày da, may mặc, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu cá; đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp cơ khí, thép, năng lượng điện, vật liệu điện, điện tử, công nghiệp nhựa, sản xuất thiết bị nông, lâm, thủy hải sản và phụ tùng thay thế; từng bước phát triển sản xuất vật liệu xây dựng không nung. Kết hợp nhiều trình độ công nghệ, ưu tiên công nghệ cao, sạch, tiêu tốn ít nguyên liệu, năng lượng, thân thiện với môi trường.

- Phát triển mạnh công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn kết hợp với công nghiệp sử dụng nhiều lao động ở các vùng nông thôn, góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động. Phát triển công nghiệp khoáng sản trên cơ sở quy hoạch được duyệt, quản lý chặt chẽ và khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản theo hướng khai thác và chế biến sâu khoáng sản đi liền với bảo vệ môi trường, không xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản thô.

- Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ, tăng sức cạnh tranh và giá trị gia tăng của sản phẩm. Đối với công nghiệp chế biến gỗ, cơ cấu lại sản phẩm một cách hợp lý giữa sản xuất hàng ngoại thất và hàng nội thất, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và chủ động ứng phó với thị trường xuất khẩu khi có biến động. Điều chỉnh, bổ sung cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các doanh nghiệp xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, xây dựng nguồn nguyên liệu, đào tạo và sử dụng tốt nguồn nhân lực..., giúp các doanh nghiệp mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh.

2. Về nông, lâm, ngư nghiệp:

Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, thân thiện với môi trường, gắn với công nghiệp chế biến, thị trường tiêu thụ và xuất khẩu. Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi; phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, giảm dần tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Đến năm 2015 tỷ trọng chăn nuôi tăng lên 45% và năm 2020 tăng lên trên 50%;

Thực hiện tốt công tác khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm, khuyến ngư; đẩy mạnh việc chuyển giao và ứng dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học, công nghệ trong nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; áp dụng công nghệ hiện đại trong khâu bảo quản, chế biến các loại nông sản. Tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là gia súc, gia cầm và thủy sản. Thực hiện tốt việc kết hợp chặt chẽ "4 nhà" (nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nước) trong phát triển sản xuất nông nghiệp.

- Ổn định diện tích trồng lúa có năng suất, chất lượng cao phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu; mở rộng diện tích trồng ngô, đảm bảo an ninh lương thực (đến năm 2015, sản lượng lương thực 700.000 tấn). Phát triển các vùng nguyên liệu mía, sắn, nguyên liệu giấy phục vụ công nghiệp chế biến. Tiếp tục quy hoạch và xây dựng các vùng chuyên canh cây trồng, chú trọng các loại cây có giá trị kinh tế cao trên một đơn vị diện tích. Quy hoạch phát triển các vùng sản xuất hoa, cây cảnh hàng hoá và vùng chuyên canh rau sạch.

- Phát triển mạnh chăn nuôi theo hình thức trang trại, gia trại gắn với quy hoạch các vùng chăn nuôi tập trung. Đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, nuôi dưỡng, phòng trừ dịch bệnh, sản xuất thức ăn cho gia súc. Đến năm 2015, đàn trâu bò đạt 370 ngàn con, tỷ lệ bò lai đạt 75%; năm 2020 là 400.000 con, cơ bản là bò lai. Đàn lợn 900 ngàn con, năm 2020 đạt 1 triệu con với tỷ lệ lai 98%, đàn gia cầm 6,5 triệu con (trong các giai đoạn không có dịch cúm).

- Đẩy mạnh trồng rừng, kết hợp với khoanh nuôi phục hồi và bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn. Phát triển trồng rừng trên đất trống, đồi trọc và trồng rừng cảnh quan ở núi Vũng Chua, Bà Hoả, ven biển, các khu du lịch. Đến năm 2015, trồng rừng phòng hộ theo chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng và thực hiện trồng rừng theo chương trình viện trợ ODA của các tổ chức tài chính quốc tế. Nâng tỷ lệ che phủ rừng lên trên 47% năm 2015 và trên 52% vào năm 2020. Đảm bảo diện tích trồng rừng tập trung hàng năm 5.000 ha. Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng tham gia kinh doanh rừng tại địa phương, các tỉnh đã ký kết hợp tác và các tỉnh của Lào.

- Phát triển thuỷ sản thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Phát triển nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với phục hồi hệ thống rừng ngập mặn và phát triển du lịch sinh thái vùng đầm Thị Nại. Nâng cao năng lực khai thác hải sản xa bờ gắn với công tác bảo vệ an ninh, chủ quyền biển, đảo. Tập trung xây dựng Trung tâm khai thác, chế biến hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá tại thôn Vĩnh Lợi, Mỹ Thành, Phù Mỹ; các cụm chế biến hải sản, các điểm tránh, trú bão cho tàu cá. Khuyến khích đầu tư đóng mới, trang bị đồng bộ đội tàu câu cá ngừ đại dương hiện đại có công suất 150 - 600 CV và tàu dịch vụ hậu cần và thu mua xuất khẩu thủy sản trên biển, xây dựng các điểm thu mua cá ngừ đại dương tại cảng cá Quy Nhơn, Đề Gi và Tam Quan. Dự kiến đến năm 2015 và những năm sau, sản lượng khai thác khoảng 154.500 tấn hải sản; diện tích nuôi tôm và thuỷ đặc sản trên 5.000 ha. Phấn đấu hàng thủy sản xuất khẩu tăng bình quân 13% mỗi năm và năm 2015 chiếm 12% tổng giá trị xuất khẩu.

- Triển khai xây dựng 27 xã trong tổng số 129 xã trong toàn tỉnh theo chuẩn nông thôn mới, đạt 21% (chủ yếu sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng kết cấu hạ tầng theo quy định của pháp luật). Đến năm 2015 hoàn chỉnh quy hoạch xây dựng nông thôn mới cho toàn bộ 129 xã. Quy hoạch, đầu tư xây dựng các thị trấn, thị tứ, cụm dân cư; các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề để nông dân có việc làm tại chỗ. Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ bê tông hóa giao thông nông thôn; đầu tư xây dựng thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt; xây dựng, nâng cấp đê biển, đê sông, trường học, cơ sở y tế, văn hoá, thể dục - thể thao.

3. Hoạt động xuất khẩu, du lịch, dịch vụ và phát triển đô thị:

Tiếp tục điều chỉnh, bổ sung cơ chế, chính sách khuyến khích xuất khẩu, xúc tiến thương mại. Tập trung đầu tư phát triển các nhóm hàng xuất khẩu có lợi thế như thủy hải sản, lâm sản, nông sản thực phẩm, khoáng sản, thủ công mỹ nghệ, công nghiệp hàng tiêu dùng đi đôi với áp dụng công nghệ tiên tiến; chú ý phát triển các sản phẩm chế biến sâu.

Đa dạng hoá thị trường tiêu thụ: giữ vững thị trường truyền thống, tập trung thị trường trọng điểm; củng cố, mở rộng thị trường hiện có, khai thác các thị trường mới, chú trọng thị trường nội địa. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả chương trình hợp tác, đầu tư với các tỉnh Nam Lào. Chú trọng xây dựng thương hiệu các sản phẩm thế mạnh của tỉnh.

Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ thương mại, nâng cấp, xây dựng mới một số chợ nông thôn, miền núi; các cụm thương mại, dịch vụ ở các thị trấn, thị tứ, các điểm dân cư nông thôn và ở những địa bàn kinh tế thương mại trọng điểm của tỉnh. Phát huy vai trò của thành phố Quy Nhơn là trung tâm thương mại, dịch vụ, giao dịch của tỉnh và khu vực, đồng thời phát triển các trung tâm thương mại - dịch vụ vùng: Bồng Sơn, An Nhơn, Phú Phong, Diêu Trì... Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại; tăng cường công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm, tiềm năng của tỉnh gắn với công tác xúc tiến đầu tư.

Chú trọng phát triển dịch vụ, nhất là dịch vụ vận tải biển qua các cảng Quy Nhơn, Thị Nại.... Tiếp tục hỗ trợ, khuyến khích phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động các loại hình dịch vụ: tài chính, ngân hàng, vận tải, bưu chính viễn thông, tư vấn, khoa học - công nghệ, bảo hiểm… theo hướng hiện đại.

Phát triển du lịch thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Tích cực thu hút đầu tư, triển khai các dự án du lịch tuyến Quy Nhơn - Sông Cầu gắn với thành phố Quy Nhơn (Khu du lịch hồ Phú Hoà, Khu du lịch Mũi Tấn - Tượng Trần Hưng Đạo, Khu du lịch Ghềnh Ráng, các điểm du lịch dọc Quốc lộ 1D...), tuyến Quy Nhơn - Tam Quan với trọng điểm là Khu du lịch quốc gia Phương Mai - Núi Bà (các khu du lịch Trung Lương, Vĩnh Hội, Tân Thanh, Hải Giang, Nhơn Lý - Cát Tiến, Quần thể du lịch lịch sử - sinh thái và tâm linh tại khu vực chùa Linh Phong, các điểm du lịch từ Đề Gi đến Tam Quan...), tuyến Quy Nhơn - An Nhơn - Tây Sơn và phụ cận (các điểm du lịch văn hoá, lịch sử, Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Một, Khu du lịch nghỉ dưỡng suối khoáng nóng Hội Vân...). Tập trung đầu tư hạ tầng phục vụ du lịch, ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch Tháp Bánh Ít, đường vào Bến Trường Trầu, đường vào Tháp Cánh Tiên; phát triển các sản phẩm du lịch; ngoài các tua (tour) du lịch hiện có, chú trọng phát triển các tua du lịch sinh thái, du lịch biển...; thành lập Hiệp hội Du lịch Bình Định; đẩy mạnh công tác xúc tiến du lịch; triển khai chương trình liên kết, hợp tác du lịch giữa Bình Định với các tỉnh thành phố trong nước, các tỉnh Nam Lào, các tỉnh Đông Bắc Thái Lan; phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác du lịch.

Đến năm 2015, phấn đấu đạt 2.750.000 lượt khách/năm, trong đó khách quốc tế đạt 320.000 lượt, chiếm khoảng 11,6%; tăng số ngày lưu trú lên 2,5 ngày/lượt khách; tổng số cơ sở lưu trú đạt 4.000 phòng, trong đó có 2.700 phòng đạt tiêu chuẩn phục vụ khách quốc tế.

Phát triển đô thị phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, theo quy hoạch và mở về không gian. Từng bước đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị trên địa bàn tỉnh. Đến năm 2015, tỷ lệ đô thị hoá đạt 40%. Chú trọng tính thẩm mỹ, dân tộc và hiện đại trong quy hoạch và phát triển đô thị. Quy hoạch phát triển thành phố Quy Nhơn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050; quy hoạch và đầu tư xây dựng Khu đô thị mới Nhơn Hội; xây dựng các thị trấn Bồng Sơn, Phú Phong thành đô thị loại IV trước năm 2015. Phát triển hệ thống đô thị theo các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, đường ven biển.

4. Phát triển kết cấu hạ tầng:

Tích cực huy động và cân đối các nguồn vốn cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng: vốn ngân sách tỉnh (chủ yếu sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng kết cấu hạ tầng theo quy định của pháp luật), các nguồn vốn trong nhân dân, vốn của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương, vốn của các bộ, ngành đầu tư trên địa bàn tỉnh. Tạo sự thông thoáng về quản lý hành chính để thu hút đầu tư. Coi trọng xã hội hoá đầu tư để tập trung phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng các khu, cụm công nghiệp.

Thực hiện tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch; nhất là quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển và bảo vệ rừng, quy hoạch phát triển công nghiệp, du lịch, đô thị... đồng thời quan tâm giải quyết tốt vấn đề sản xuất và đời sống của nhân dân các vùng tái định cư. Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Thực hiện đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành các công trình tuyến đường phía Tây tỉnh, đường Nguyễn Tất Thành (nối dài); đập đầu mối và hệ thống kênh mương đập dâng Văn Phong, hồ Đá Mài; sửa chữa, nâng cấp một số hồ chứa, đập dâng, đê sông, đê biển bị xuống cấp. Đến năm 2015, cơ bản hoàn thành kiên cố hóa kênh cấp 1 và 50% kênh cấp 2 và 3; đảm bảo 85% diện tích canh tác được tưới ổn định, chủ động. Hoàn thành đầu tư mở rộng xây dựng cảng cá và khu neo đậu tàu thuyền Tam Quan, Đề Gi, Quy Nhơn.

Xây dựng hệ thống cấp nước ngọt tại các vùng nuôi tôm trọng điểm Tuy Phước, Phù Mỹ, Hoài Nhơn. Hoàn thành các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn Đông Tuy Phước, Đông Nam Phù Cát, Tây Giang - Tây Thuận (Tây Sơn); Nhơn Hòa (An Nhơn); Đông Bắc và Đông Nam Hoài Nhơn, Phù Mỹ.

Nâng cấp mở rộng tuyến đường ven biển Quy Nhơn - Tam Quan; nâng cấp mở rộng tuyến Quốc lộ 19 đoạn từ Cảng Quy Nhơn đến giao Quốc lộ 1A (ngã ba cầu Bà Di). Đối với thành phố Quy Nhơn, hoàn thành đường Hoàng Văn Thụ (nối dài), đường Điện Biên Phủ, đường Hoa Lư, đường Tháp Đôi, đường Suối Trầu - Long Vân; mở rộng đường Hùng Vương từ ngã ba Phú Tài đến cầu Long Vân; nâng cấp, mở rộng tuyến đường nối Quốc lộ 1D với ngã ba Ông Thọ và Cụm công nghiệp Nhơn Bình. Xây dựng cầu nối khu dân cư đảo 1B Bắc sông Hà Thanh với khu Đông Điện Biên Phủ; xây dựng cầu Hưng Thạnh.

Đầu tư xây dựng nâng cấp các cảng, bến cảng của tỉnh theo Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

Hoàn thành công trình Dự án vệ sinh môi trường thành phố Quy Nhơn, các dự án xử lý chất thải trên địa bàn tỉnh… Tiếp tục nâng cấp và bê tông hóa các tuyến đường tỉnh lộ, đường liên vùng, liên xã và trục chính của xã.

5. Phát triển các ngành, lĩnh vực xã hội:

- Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học, công nghệ, doanh nhân, công nhân. Ưu tiên đầu tư từ ngân sách tỉnh cho phát triển giáo dục - đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Thực hiện tốt việc phân luồng đào tạo sau trung học cơ sở để chuyển một bộ phận học sinh sang học nghề. Tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật các cơ sở giáo dục - đào tạo, đầu tư nâng cấp, mở rộng Trường chuyên Lê Quý Đôn; thực hiện chương trình kiên cố hoá trường, lớp và xây dựng nhà ở công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 - 2012 và những năm tiếp theo; xây dựng ký túc xá cho học sinh nội trú, sinh viên. Nâng cấp Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bình Định thành Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Bình Định, Trường Trung học Văn hoá - Nghệ thuật thành Trường Cao đẳng Văn hoá - Nghệ thuật và Du lịch; xây dựng Trường Cao đẳng Nghề đạt chuẩn trường trọng điểm quốc gia, phấn đấu đến năm 2015 thành Trường Đại học Công nghệ. Đầu tư xây dựng Trường Trung cấp nghề Thủ công mỹ nghệ Quy Nhơn.

- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất và đời sống, phát triển khoa học xã hội và nhân văn. Khuyến khích đổi mới khoa học, công nghệ trong các doanh nghiệp. Đầu tư xây dựng Trung tâm công nghệ thông tin của tỉnh, áp dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào quản lý nhà nước và các hoạt động kinh doanh, dịch vụ. Tập trung nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học... Chú trọng công tác bảo vệ gen và đa dạng sinh học, đồng thời từng bước nghiên cứu đưa các giống cây, con biến đổi gen, giống cấy mô có chất lượng tốt vào sản xuất. Tiếp tục thực hiện chính sách đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao, thu hút nhân tài, nhất là các chuyên gia đầu ngành; tạo mọi điều kiện thuận lợi để cán bộ khoa học lao động, sáng tạo, cống hiến. Khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế tư nhân trích một phần vốn dành cho công tác nghiên cứu, đổi mới công nghệ và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ.

- Tăng cường công tác bảo vệ môi trường. Đến năm 2015, 100% khu công nghiệp đã đi vào hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; thu gom và xử lý chất thải y tế, rác thải sinh hoạt đô thị, chất thải rắn công nghiệp không nguy hại; thu gom và xử lý chất thải nguy hại. Thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu. Có giải pháp cơ bản, chủ động phòng tránh, hạn chế thiệt hại do bão lũ. Trong đó, chú trọng chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn; củng cố các hồ chứa thuỷ lợi, thuỷ điện; đảm bảo an toàn dân cư vùng phía Tây của tỉnh và vùng ven biển, vùng có nguy cơ thường bị sạt lở; quan tâm hơn nữa việc đảm bảo an toàn cho ngư dân đánh bắt xa bờ dài ngày trên biển.

- Nâng cao chất lượng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá"; xây dựng nếp sống văn hoá trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Tiếp tục đầu tư xây dựng, tôn tạo, bảo vệ các di tích văn hoá, lịch sử, di tích cách mạng và kháng chiến, danh lam thắng cảnh; xây dựng các công trình, thiết chế văn hoá ở cơ sở; đầu tư xây dựng mới Bảo tàng Tổng hợp tỉnh, đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất cho Nhà hát Tuồng Đào Tấn và Đoàn ca kịch bài chòi... Chú trọng và phát huy nghệ thuật tuồng và võ Bình Định. Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hoá - nghệ thuật, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá dân tộc và địa phương với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Bình Định, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh nhà.

- Phát triển sâu rộng phong trào thể dục thể thao quần chúng; tiếp tục đẩy mạnh phong trào toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại. Tập trung xây dựng đội ngũ huấn luyện viên, vận động viên, phát triển một số bộ môn thể thao thành tích cao có lợi thế của tỉnh. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thể dục thể thao, nhất là ở cấp huyện và cơ sở. Đẩy mạnh xã hội hoá trên lĩnh vực thể dục, thể thao.

- Nâng cao chất lượng công tác y tế dự phòng và bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đi đôi với đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn giỏi cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh nhằm giữ vững chuẩn bệnh viện hạng I. Đầu tư xây dựng, nâng cấp Bệnh viện Đa khoa thành phố Quy Nhơn; đầu tư mở rộng các bệnh viện khu vực Phú Phong, Bồng Sơn; xây dựng Bệnh viện sản nhi, Khu điều trị kỹ thuật cao, Trung tâm y tế dự phòng, Trung tâm phòng chống sốt rét, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS và Trung tâm da liễu, Chi cục an toàn vệ sinh thực phẩm. Tăng cường đầu tư phương tiện và cơ sở vật chất cho các trung tâm y tế, trạm y tế, từng bước đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh thông thường cho nhân dân. Đến năm 2015, 98% số trạm y tế xã có bác sĩ; 98% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; giảm tỉ suất sinh hàng năm 0,2-0,3‰; giảm tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới mức 17%; bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; ngăn ngừa nạn bạo hành trong gia đình và nguy cơ xâm hại trẻ em.

- Thực hiện có hiệu quả các chương trình quốc gia về việc làm. Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nghề; gắn công tác đào tạo nghề với nhu cầu lao động cho các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế, nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, phục vụ xuất khẩu lao động; phấn đấu đến năm 2015, lao động nông nghiệp chiếm khoảng 52% trong tổng lao động xã hội để đến năm 2020 còn 37%. Mở rộng, đa dạng hoá các hình thức tư vấn, giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động. Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ người lao động tự tìm, tạo việc làm cho mình và cho người khác; hình thành quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động. Phấn đấu mỗi năm giải quyết việc làm mới cho 25 - 30 nghìn lao động.

- Triển khai thực hiện đề án giảm nghèo nhanh và bền vững 3 huyện miền núi gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh. Đa dạng hoá hình thức huy động các nguồn vốn hỗ trợ người nghèo; tạo điều kiện và khuyến khích những người thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ người khác thoát nghèo. Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa”, xây dựng quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa”. Chăm lo những người và gia đình có công, tạo điều kiện và khuyến khích người và gia đình có công tích cực tham gia phát triển kinh tế, hoạt động xã hội, có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư tại địa bàn.

IV. Nhu cầu đầu tư của tỉnh giai đoạn 2011 - 2015

 

 

Ước TH
2006-2010 

 Dự kiến
2011-2015

Vốn

Tỷ trọng

Tổng số

37 836

98 000

 

Chia theo nguồn vốn

 

 

 

I. Vốn khu vực kinh tế nhà nước

16 679

47 000

 47.96

 - Vốn ngân sách nhà nước

10 426

24 000

 24.49

 - Vốn vay

5 049

15 000

 15.31

 - Vốn tự có của doanh nghiệp

1 197

6 000

 6.12

 - Vốn từ các nguồn khác

 7

2 000

 2.04

II. Vốn ngoài nhà nước

20 675

46 000

 46.94

 - Vốn của doanh nghiệp

8 307

26 000

 26.53

 - Vốn của dân cư

12 368

20 000

 20.41

III. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

 482

5 000

 5.10

 

 

 

 

Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2015 bao gồm nhiều nguồn từ các thành phần kinh tế, song nguồn vốn từ ngân sách nhà nước có ý nghĩa đặt biệt quan trọng, dự báo nguồn vốn này trong 5 năm khoảng 24.000 tỷ đồng, tập trung vào các lĩnh vực theo chốt, quyết định và cần thiết; vừa đầu tư trực tiếp cho các dự án trọng điểm, vừa hỗ trợ để thực hiện việc thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế; thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển ở các vùng khó khăn, các công trình cơ sở hạ tầng không thu hồi được vốn, ổn định xã hội, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động, đảm bảo nhiệm vụ củng cố quốc phòng an ninh.

Nguồn vốn vay tín dụng, chủ yếu tập trung vào phát triển sản xuất và kinh doanh đem lại hiệu quả trong công nghiệp, đánh bắt xa bờ, phát triển nuôi trồng và chế biến nông lâm thủy sản, thương mại, dịch vụ, du lịch... Nguồn vốn này dự kiến trong 5 năm khoảng 15.000 tỷ đồng.

Nguồn vốn của các doanh nghiệp dự kiến trong 5 năm 2011 - 2015 khoảng 26.000 tỷ đồng, tập trung đầu tư theo chiều sâu, mở rộng sản xuất nhằm phát triển mạnh những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có sức cạnh tranh, giành được chỗ đứng trên thị trường trong nước và thế giới; tạo ra những sản phẩm mới, phù hợp với nhu cầu thị trường mà tỉnh ta có tiềm năng và lợi thế cạnh tranh.

Huy động nguồn vốn trong dân nhằm vào phát triển công nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp nông thôn, phát triển dịch vụ, các chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp... để tạo nhiều việc làm. Việc huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước để đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển văn hóa - xã hội phải tuân thủ các quy định của pháp luật, tự nguyện của nhân dân và thực hiện công khai mức huy động, khối lượng đã huy động và việc sử dụng nguồn vốn huy động cho từng mục tiêu cụ thể. Hình thành quy chế huy động toàn dân đóng góp xây dựng, đặc biệt trong phát triển cơ sở hạ tầng. Nguồn vốn trong dân dự kiến trong 5 năm khoảng 20.000 tỷ đồng.

Đối với nguồn FDI trong 5 năm tới dự báo sẽ khó khăn cần thiết phải chuẩn bị thời cơ bằng cách xây dựng quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch phát triển ngành để công bố rộng rãi các danh mục ưu tiên đầu tư, ưu đãi đầu tư; tăng cường công tác vận động xúc tiến đầu tư; đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư, xây dựng cơ chế bình đẳng, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn này dự kiến đạt 5.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 5% trong tổng nhu cầu vốn đầu tư.

V. Các đề xuất hợp tác cụ thể với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Với vai trò được Chính phủ giao trong việc triển khai các dự án trọng điểm, UBND tỉnh Bình Định đề nghị Ngân hàng Đầu tư Phát triển Việt Nam (BIDV) tích cực tác động với Chính phủ để hình thành cơ chế hợp tác phát triển với tỉnh về các vấn đề sau:

1. Hợp tác đầu tư hoàn chỉnh hệ thống các tuyến Quốc lộ, phát triển giao thông hàng không và đường biển để tạo thành các tuyến giao thông liên vùng quan trọng, tạo nên sự liên kết giao thương hữu hiệu giữa các tỉnh trong Vùng KTTĐ miền Trung; từ đó thu hút, phát triển Khu kinh tế Nhơn Hội và các dự án ven biển, khai thác tiềm năng về biển, nhất là du lịch biển.

- Thực hiện Quyết định số 140/QĐ-TTg ngày 21/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc Quy hoạch chi tiết đường bộ cao tốc Bắc - Nam, đề nghị BIDV phối hợp với tỉnh kiến nghị với Chính phủ đẩy nhanh việc đầu tư và xây dựng hoàn thành đoạn Quảng Ngãi - Quy Nhơn cùng lúc với tuyến Đà Nẵng - Quảng Ngãi (2011 - 2014) hoặc xây dựng hoàn thành trước 2016 để phát huy tối đa hiệu quả của tuyến này đối với vùng KTTĐ miền Trung.

- Thực hiện Quyết định số 129/QĐ-TTg ngày 18/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc Quy hoạch chi tiết đường đường bộ ven biển Việt Nam, theo đó tuyến ven biển từ các tỉnh Thừa Thiên - Huế đến Bình Định sẽ được đầu tư nâng cấp theo tiêu chuẩn đường cấp III. Tuyến đường ven biển qua địa bàn tỉnh Bình Định (Nhơn Hội - Tam Quan dài 108 km) trong những năm qua đã được đầu tư thông tuyến với nguồn vốn ngân sách tỉnh kể cả vốn vay với quy mô đường cấp V đồng bằng, trong đó có nhiều đoạn chủ yếu nối từ các tuyến đã có lại với nhau nên hướng tuyến một số đoạn chưa hợp lý. Do vậy, đề nghị BIDV phối hợp với tỉnh kiến nghị đầu tư trong giai đoạn 2011-2015, chỉnh hướng tuyến của đoạn đầm Đề Gi (dài 48 km kể cả cầu vượt đầm 670 m) và chỉnh hướng tuyến tránh đèo Lộ Diêu (dài 6,5 km); giai đoạn sau nâng cấp toàn tuyến theo tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng như đã được phê duyệt.

- Vùng KTTĐ miền Trung hiện có 2 tuyến đường bộ quan trọng phục vụ cho phát triển theo hành lang Đông Tây, đó là Quốc lộ 9 ở phía Bắc và Quốc lộ 19 ở phía Nam của vùng nhằm nối vùng KTTĐ với khu vực Tây nguyên và xa hơn là Lào, Campuchia và Thái Lan. Hiện nay Quốc lộ 19 đã xuống cấp nghiêm trọng do cả lưu lượng xe và tải trọng đều tăng. Việc nâng cấp đang được triển khai nhưng tốc độ sửa chữa không theo kịp tốc độ xuống cấp. Thực hiện Quyết định số 1327/QĐ-TTg ngày 24/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, theo đó tại miền Trung - Tây Nguyên có tuyến đường bộ cao tốc Quy Nhơn - Pleiku dài 160km, quy mô 4 làn xe. Do vậy đề nghị xúc tiến nhanh kế hoạch nâng cấp toàn tuyến Quốc lộ 19 theo Quyết định của Thủ tướng nhằm phục vụ phát triển vùng.

- Đối với Cảng Hàng không Phù Cát đã được nâng cấp các công trình đường lăn, sân đỗ máy bay, nhà ga hành khách có thể tiếp nhận loại máy bay A320, A321. Đề nghị tiếp tục bố trí kinh phí để đẩy nhanh tiến độ dự án đầu tư hệ thống đèn phục vụ bay đêm. Nâng tần suất bay các chuyến bay thẳng Hà Nội - Quy Nhơn - Hà Nội và chuyến TP Hồ Chí Minh - Quy Nhơn - TP Hồ Chí Minh. Đề nghị BIDV phối hợp với tỉnh nghiên cứu từng bước mở các chuyến bay Quy Nhơn - Huế, Quy Nhơn - Đà Lạt, Quy Nhơn - Cam Ranh và sau năm 2015 phối hợp với tỉnh đầu tư sân bay Phù Cát định hướng phát triển thành sân bay quốc tế.

- Phối hợp với tỉnh hình thành cơ chế đầu tư, hỗ trợ vốn để tỉnh có khả năng đẩy nhanh tiến độ đầu tư vào hạ tầng Khu kinh tế Nhơn Hội, tạo động lực mạnh để góp phần khẳng định vai trò của vùng KTTĐ miền Trung trong cả nước.

- Hợp tác xây dựng hệ thống chính sách và tập trung đầu tư mở rộng, hiện đại hóa ngành hàng hải và những dự án lớn. Đây là lợi thế so sánh và là thế mạnh của các tỉnh miền Trung chưa được khai thác hết.

- Với những lợi thế vượt trội về phát triển du lịch, phối hợp với tỉnh đầu tư theo quy hoạch du lịch chung vùng miền Trung về chuỗi du lịch chất lượng cao với sự có mặt của các khu resort cao cấp tiêu chuẩn từ 4 sao trở lên để có thể cạnh tranh được với các trung tâm du lịch lớn trong khu vực như Bali (Indonesia), đảo Phuket (Thái Lan)… và trở thành điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước đến tham quan.

- Đề nghị làm việc với Bộ Công Thương và EVN thống nhất phương thức triển khai xây dựng các nhà máy phong điện hoặc thành lập Quỹ phát triển năng lượng tái tạo để hỗ trợ cho các dự án phong điện.

2. Đề nghị BIDV tiếp tục hỗ trợ và cho địa phương vay vốn triển khai các hoạt động an sinh xã hội.

- Thực hiện hỗ trợ các chương trình an sinh xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai như: hỗ trợ các huyện nghèo khác trên địa bàn tỉnh (như đã triển khai đối với huyện An Lão), xóa nhà tạm, xây mới các phòng học, phòng nội trú cho học sinh vùng cao. Hỗ trợ giáo dục dạy nghề, hỗ trợ cặp-phao cứu sinh, hỗ trợ xây dựng các trạm y tế theo tiêu chuẩn Quốc gia, các công trình di tích lịch sử..

- Thực hiện cho vay vốn lãi suất ưu đãi để tiếp tục đầu tư chương trình kiên cố hóa kênh mương, phát triển giao thông nông thôn....

3. Đề nghị BIDV tiếp tục phối hợp với tỉnh tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư quy mô lớn, có trọng tâm, trọng điểm và kêu gọi, hỗ trợ, tài trợ các nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm triển khai các dự án có tính chất động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp, dịch vụ của tỉnh./.

 

                                                                                        TỈNH ỦY BÌNH ĐỊNH

 

Bài liên quan: