11:06 10/01/2012
Cỡ chữ

Trong số 138 bảo tàng trong cả nước, hiện không có bảo tàng văn hóa biển. Với chức năng bảo tồn, lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa vật thể cũng như phi vật thể, bảo tàng văn hóa biển sẽ đem đến cho công chúng, các nhà nghiên cứu những giá trị văn hóa do cộng đồng cư dân biển bao đời nay đã sáng tạo, giữ gìn và phát huy qua những trường kỳ lịch sử. 

Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, kéo dài từ Móng Cái đến Hà Tiên, có 28 tỉnh thành giáp biển, với trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích khoảng 1.630km2. Với hệ thống biển đảo như vậy, Việt Nam mang trong mình nhiều nguồn lợi về tài nguyên thủy sản, tài nguyên khoáng sản, cũng như lợi thế để phát triển kinh tế cảng biển, vận tải biển và du lịch biển.

1. Một nền văn hóa biển phong phú

Bên cạnh những tiềm năng kinh tế, chúng ta còn có một nền văn hóa biển hết sức phong phú, đa dạng và đầy sức hấp dẫn. Đó là những nền văn hóa khảo cổ, phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, ẩm thực, ngành nghề truyền thống, kho tàng văn học dân gian, nghệ thuật diễn xướng, tri thức dân gian… liên quan đến biển.

Về văn hóa khảo cổ, sau văn hóa Hòa Bình, các nhà khảo cổ học nước ta đã phát hiện được các di chỉ khảo cổ nằm dọc bờ biển và hải đảo. Đó là các nền văn hóa: Hạ Long (Quảng Ninh), Tràng Kênh (Hải Phòng), Hoa Lộc (Thanh Hóa), Quỳnh Văn (Nghệ An), Bàu Tró (Quảng Bình), Bầu Dũ (Quảng Nam), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Vĩnh Yên, Xóm Cồn, Hòa Diêm (Khánh Hòa)… Căn cứ vào những di chỉ khảo cổ này, cho thấy những cư dân ven biển và hải đảo nước ta, cách đây hàng vạn năm đã thích ứng với môi trường biển và hướng những hoạt động khai thác của mình vào các tài nguyên biển. Đồng thời, họ cũng có mối quan hệ giao lưu văn hóa mạnh mẽ với các nước ở khu vực Đông Nam Á và châu lục thông qua những con đường thương mại trên biển.

Ở các vùng miền ven biển nước ta, ngư dân có những tục lệ về kiêng kỵ liên quan đến việc đánh bắt trên biển. Nó phản ánh tâm thức, quan niệm của ngư dân trong việc hành nghề, thái độ ứng xử với các nhóm, giới trong một cộng đồng.

Lễ hội miền biển cũng hết sức phong phú, quan hệ với những cộng đồng cư dân biển. Từ những lễ hội chọi trâu của Đồ Sơn (Hải Phòng) gắn với nghi thức thờ Bà Đế, vị nữ thần biển, dấu vết của tục hiến sinh cho thủy thần; lễ hội làng Quan Lạn (Vân Đồn, Quảng Ninh), tái hiện lại trận đánh với quân Nguyên dưới sự chỉ huy của tướng Trần Khánh Dư; lễ hội đền Cờn (Quỳnh Lưu, Nghệ An) qua sự tích Tống Phi; cho đến các lễ khao lề thế lính Hoàng Sa (Lý Sơn, Quảng Ngãi), lễ hội đầm Ô Loan (Phú Yên), lễ hội Dinh Cô (Long Hải, Bà Rịa - Vũng Tàu), lễ cúng phước biển ở Vĩnh Châu (Sóc Trăng) của đồng bào Khmer, lễ hội Dinh Cậu (Phú Quốc, Kiên Giang)…

Nhiều địa phương ven biển có tổ chức lễ hội đua thuyền như ở Nhượng Bạn (Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh); Làng Hà (Bảo Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình) thờ cá voi (dân gian gọi là Ông) có tổ chức hội cầu mùa (hội xuống biển) và hội tháng bảy; Làng Thai Dương Hạ (Thuận An, Phú Vang, Thừa Thiên Huế) tổ chức “trò bủa lưới” vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch, nhằm tưởng nhớ Trương Quý Công (Trương Thiều), một người gốc Bắc khi vào đây đã dạy cho dân nghề đánh cá và buôn ghe mành. Sau trò trình nghề bủa lưới có tục đua trải; lễ hội đua thuyền trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) diễn ra từ mồng 4 đến mồng 7 tháng Giêng âm lịch.

Nổi bật trong đó là lễ cúng cá Ông của cộng đồng ngư dân kéo thành một vệt dài từ Thanh Hóa vào đến tận Kiên Giang, biểu hiện sinh động của sự giao thoa văn hóa Việt - Chăm. Đây được xem là tín ngưỡng chủ đạo của dân đánh cá miền Trung và Nam Bộ, thể hiện sự tri ơn vị thần bảo hộ nghề đánh bắt, hướng đến đạo lý uống nước nhớ nguồn. Nó tích hợp trong mình những tín lý, nghi lễ, điện thần, di tích, diễn xướng… với những giá trị hết sức nhân văn, được xem như một “bảo tàng” văn hóa dân gian sống động.

Tín ngưỡng dân gian biển Việt Nam lại là một bức tranh đa sắc màu, có sự giao thoa giữa các tôn giáo, tộc người, nền văn hóa khác nhau: Mẫu Thoải, Bà Giàng Lạch, thần Độc Cước, Cô hồn biển, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Tứ Vị Thánh Nương, Quan Âm, Thiên Y A Na, Bà Chúa Hòn, Nam Hải Đại Vương… Trong một bản văn tế ở Quảng Nam đã có mặt đến 26 vị thần biển.

Sở hữu một bờ biển dài với những ngư trường nhiều tiềm năng, ẩm thực miền biển cũng là một nét văn hóa độc đáo trong nền ẩm thực Việt. Không chỉ những đặc sản quý hiếm như sá sùng Quan Lạn (Quảng Ninh), tu hài Cát Bà (Hải Phòng), tôm Huỳnh Đế (Quảng Ngãi), sò huyết Ô Loan, ghẹ Sông Cầu (Phú Yên), ốc vú nàng Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), đồn đột (hải sâm) Phú Quốc (Kiên Giang)…  mà còn nhiều món ăn dân gian khác đã đi vào cơ cấu bữa ăn của người dân vùng biển. Cá úc, cá vồ kho sả nghệ; cá cơm, cá trích kho đường; hay cá mai, cá liệt kho mỡ ớt ở Phú Quốc (Kiên Giang) là những món ăn mà một lần nếm là nhớ suốt đời.

Người dân làng biển Cảnh Dương (Quảng Bình) có nhiều kiểu ăn cá: cá kho mặn, cá nấu chua, cá nấu lác (nấu ngót, không mặn không lạt), cá kho bở, cá một lửa, cá kho khô, cá hấp, cá chiên, cá nướng, cá luộc, cá ăn gỏi, cá quết chả, cá giả cầy, cá băm viên

Chỉ riêng một gia vị hết sức bình dân được khai thác từ biển là muối mà các nghệ nhân cung đình Huế đã chế biến ra hàng chục món muối: muối rang, muối hầm, muối tiêu, muối tiêu chanh, muối ớt, muối sả, muối ruốc sả ớt, muối sả thịt, muối khế, muối thịt, muối riềng, muối gừng, muối khuyết, muối đậu phụng, muối mè, muối dầu lai… với cách chế biến rất cầu kỳ, mang đúng phong cách ẩm thực của đất thần kinh.

Thật khó có thể thống kê hết các ngành nghề liên quan đến đánh bắt của ngư dân suốt dọc ven biển đất nước. Qua thời gian, những cư dân ven biển và hải đảo đã biết thích ứng với việc khai thác biển thông qua việc sáng tạo ra những ngành nghề liên quan đến biển nhằm phục vụ cho nhu cầu của cộng đồng. Đó là các nghề làm muối ở Quang Lang (Thái Bình), Quỳnh Lưu, Diễn Châu (Nghệ An), Hộ Độ (Hà Tĩnh), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Tuyết Diêm (Phú Yên), Hòn Khói (Khánh Hòa), Cà Ná (Ninh Thuận), Bà Rịa, Bạc Liêu…

Nhiều địa phương có nghề sản xuất nước mắm nổi tiếng như Cát Hải, Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng, Phú Yên, Nha Trang, Phan Thiết, Phú Quốc… cung cấp cho thị trường cả trong và ngoài nước. Trong đó, nước mắm Phan Thiết và nước mắm Phú Quốc là những thương hiệu danh tiếng.

Chế biến khô, làm mắm là phương thức lưu giữ hải sản lâu dài mà hầu như cư dân vùng biển nào cũng biết. Món mắm tôm chà, đặc sản của vùng biển Gò Công (Tiền Giang) làm Thái hậu Từ Dũ cứ nhớ mãi khôn nguôi khi về ở đất thần kinh, nên đã trở thành món tiến dâng cho hoàng cung.

Nghề khai thác yến sào ở Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và Nha Trang (Khánh Hòa) mang lại nguồn lợi kinh tế rất lớn cho đất nước. Yến sào làng Thanh Châu (Cù Lao Chàm) được khai thác từ thế kỷ XVII, nơi đây có ngôi miếu thờ vị tổ nghề yến với bức hoành phi ghi năm 1843. Ở Nha Trang, hiện vẫn duy trì việc thờ cúng Bà Chúa đảo yến với lễ giỗ hàng năm, hình thành nên một “văn hóa yến sào” ở Khánh Hòa. Đây là những hình thức sinh hoạt văn hóa độc đáo, cần được nghiên cứu và bảo tồn.

Việc sử dụng ngư cụ của ngư dân ta cũng rất phong phú và đa dạng. Nơi vùng biển địa đầu của Tổ quốc, khu vực Trà Cổ (Quảng Ninh) thường dùng các loại lưới: lưới vét (lưới kéo), lưới bén, lưới cá đục, lưới tôm he, lưới cá thu, lưới sứa.

Đồ Sơn có các loại ngư cụ đánh bắt như: nếu trong lộng, tức biển ven bờ thì có đáy, te, rùng (lưới cả), bóng; ngoài khơi thì có lưới giã, lưới rút, lưới rê, lưới sủ, lưới chống; hình thức câu biển khơi có câu vặt, câu dăng, câu rã

Ngư cụ ở Quảng Nam lại phong phú với: xăm, giả ruốc, giả cào, mành chốt, mành mở, lưới quát, lưới cản, nghề khơi (lưới chuồn), lờ mực, câu ống, câu giàn.

Trong công trình dân tộc học khảo cứu về ghe thuyền, Voilliers d’Indochine (Thuyền buồm Đông Dương), Pietri đã ghi nhận hàng chục loại ghe thuyền của Việt Nam, suốt dọc biển từ Trà Cổ đến Hà Tiên: ghe tam bản Móng Cái, ghe lưới Hạ Long, ghe bè Thanh Hóa, ghe bè Hà Tĩnh, ghe mành Cửa Lò, ghe câu Cửa Lò, ghe giã Cửa Lò, ghe câu Quảng Bình, ghe bè Quảng Trị, ghe câu Cửa Việt, ghe nốc Thuận An, ghe nốc Cầu Hai, ghe nang Đà Nẵng, ghe mành Đà Nẵng, ghe bầu Quảng Nam, ghe bầu Quảng Ngãi, ghe giã Quy Nhơn, ghe song vành Quy Nhơn, ghe giã Bình Định, ghe nang Tam Quan, ghe lưới song Nha Trang, ghe bầu Phan Rang, ghe câu Bình Thuận, ghe bầu Mũi Né, ghe lưới rùng Phước Hải, ghe cửa Mekong, ghe câu Phú Quốc… Chỉ chừng ấy thôi, chúng ta đã có thể thành lập một bảo tàng ghe thuyền truyền thống có hạng trên thế giới với sự đa dạng, phong phú về chủng loại.

Hình ảnh chiếc ghe bầu Nam Trung Bộ đã trở thành “biểu tượng” cho nghề buôn cận duyên suốt mấy thế kỷ. Ghe bầu còn là phương tiện góp phần vào việc chuyển tải những giá trị văn hóa giữa các vùng miền trong cả nước. Qua đó, cho thấy cả một “dòng văn hóa ghe bầu” dịch chuyển từ Trung Bộ vào đến Nam Bộ trong dòng chảy lịch sử văn hóa Việt Nam trên cả hai phương diện, văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể.

Kho tàng văn học dân gian miền biển thật phong phú, thể hiện quá trình chinh phục, tâm thế ứng xử của con người trước biển cả. Trong kho tàng ấy có rất nhiều câu ca dao, tục ngữ, hò vè phản ảnh quá trình lao động, mô tả thời tiết, ca ngợi tình cảm, sự giàu có của biển cả. Chúng ta có những truyền thuyết, sự tích về Lạc Long Quân - Âu Cơ, Sơn Tinh - Thủy Tinh, An Dương Vương, Mai An Tiêm, ông Khổng Lồ, vịnh Hạ Long, hòn Vọng Phu… mà ở đó dấu vết văn hóa biển biểu hiện rất rõ nét, phản ánh quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông ta.

Vè Các lái là những sáng tác dân gian của dân ghe bầu bằng thể thơ lục bát trên con đường thông thương Bắc - Nam. Đây thực sự là những cẩm nang đường biển, như một bức hải đồ qua bài “Nhật trình đi biển” này, giúp họ an toàn trên những chuyến đi xa, tránh được bãi đá ngầm, luồng lạch không an toàn, đồng thời ngâm nga để giải khuây lúc đi buôn đường dài. Nghiên cứu những bài vè này sẽ mang đến nhiều dữ kiện phản ánh phương thức hoạt động của thương thuyền Việt Nam trên biển miền Trung từ thế kỷ XVII đến năm 1945.

Nghệ thuật diễn xướng miền biển cũng không kém phần đặc sắc với các loại hình như hát đúm Hải Phòng, hò hụi, hò chèo cạn, hát hò hát hố (Bắc Trung Bộ), hát xà - hát mộc (Vạn Ninh, Khánh Hòa), hát bả trạo, múa siêu Khánh Hội (Ninh Thuận), hát sắc bùa, hò khoan (Nam Trung Bộ)…

Tri thức về môi trường và sử dụng nguồn tài nguyên, tri thức về sản xuất là những kinh nghiệm sống không thể thiếu được ở các vùng biển. Ngư dân có thể nói là những người nắm rất vững những quy luật về luồng cá, thời tiết, thủy triều, sóng, gió, lưới… Tháng Tám nước sa, tháng Ba nước dậy. Đi ra Nam Tào, đi vào Bắc Đẩu (kinh nghiệm ra khơi vào lộng), Tối trời ngời cá. Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông…

2. Sự cần thiết của bảo tàng văn hóa biển

Lâu nay chúng ta chỉ quan tâm nhiều đến việc khai thác các nguồn lợi từ biển mà ít chú ý đến xây dựng văn hóa biển. Đất nước thiếu hụt hẳn một truyền thống văn hóa biển đại dương, với những tri thức, ứng xử, tâm thế hướng biển. Điều đó làm hạn chế rất nhiều việc vươn ra đại đương hội nhập với thế giới của Việt Nam.

Trong số 138 bảo tàng trong cả nước, hiện không có bảo tàng văn hóa biển. Với chức năng bảo tồn, lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa vật thể cũng như phi vật thể, bảo tàng văn hóa biển sẽ đem đến cho công chúng, các nhà nghiên cứu những giá trị văn hóa do cộng đồng cư dân biển bao đời nay đã sáng tạo, giữ gìn và phát huy qua những trường kỳ lịch sử.

Và đây cũng sẽ là điểm đến thú vị cho du khách trong và ngoài nước muốn khám phá văn hóa biển của Việt Nam, góp phần phát triển du lịch biển đảo. Đà Nẵng, Nha Trang là những thành phố hội tụ đầy đủ các điều kiện để thành lập một bảo tàng như thế. Trước mắt, có thể khởi động từ việc xã hội hóa bảo tàng, tức hình thức bảo tàng tư nhân, trong khi chờ Chính phủ phê duyệt kế hoạch quy hoạch lại mạng lưới bảo tàng ở Việt Nam sau năm 2020. Hơn nữa, trong tương lai gần, chúng ta cũng cần tính tới việc thành lập một viện nghiên cứu văn hóa biển. Một dân tộc muốn đi đến tương lai một cách vững chắc phải biết lưu giữ những ký ức tốt đẹp, nhất là giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa biển, “thế yếu” của chúng ta lâu nay.

 

Tài liệu tham khảo

1. Đình Hy. 2008. Bản sắc một vùng đất. Ninh Thuận: Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Ninh Thuận.

2. J.B. Piétri. 1949. Voiliers d’Indochine. Saigon: SILI.

3. Ngô Đức Thịnh (Chủ biên). 2000. Văn hóa dân gian làng ven biển. Hà Nội: Văn hóa Dân tộc,

4. Ngô Đức Thịnh. 2009. Bản sắc văn hóa vùng ở Việt Nam. Hà Nội: Giáo dục,

5. Nguyễn Duy Thiệu. 2002. Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam. Hà Nội: Khoa học Xã hội,

6. Nhiều tác giả. 2008. Văn hóa biển miền Trung và văn hóa biển Tây Nam Bộ. Hà Nội: Từ điển Bách khoa.

7. Trần Đức Anh Sơn. 2011. “Hướng biển”. Báo Tuổi trẻ. Số Xuân Tân Mão 2011.  

8. Viện Battelle Memorial. 1967. Thanh thư về tàu thuyền cận duyên miền Nam Việt Nam. USA, Ohio.

9. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - UNND tỉnh Quảng Ngãi. 2011. Khai thác tiềm năng biển, đảo vì sự phát triển bền vững của Quảng Ngãi và miền Trung. Kỷ yếu hội thảo quốc gia, thành phố Quảng Ngãi, ngày 10 - 11.5.2011

 

Theo Nguyễn Thanh Lợi

(Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng)

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
2.327 lượt xem - 12.06.2015 : 15:00p
2.489 lượt xem - 05.11.2013 : 10:23p
2.039 lượt xem - 05.11.2013 : 10:20p
2.044 lượt xem - 23.10.2013 : 15:29p
2.028 lượt xem - 22.07.2013 : 14:26p
Tin đọc nhiều
43.509 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
21.586 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
20.823 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
19.335 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
16.829 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
15.055 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p