10:16 10/08/2012
Cỡ chữ

TS. Lê Thị Kim Dung

                                                           Vụ Quản lý Quy hoạch - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Kinh nghiệm phát triển của nhiều nước và thực tế Việt Nam đã cho thấy phương thức sản xuất công nghiệp tập trung đã mang lại hiệu quả cao cho phát triển ngành và đóng góp lớn cho phát triển kinh tế - xã hội toàn quốc. Ở Việt Nam, công tác quy hoạch phát triển trong đó có quy hoạch phát triển các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) đã có đóng góp lớn cho phát triển công nghiệp nói riêng, tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả đầu tư nói chung. Và vì vậy, thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) được đánh giá là gắn liền với sự hình thành và phát triển của các KCN, KCX.

1. Định hướng quy hoạch và hiện trạng phát triển KCN, KCX

Ngay từ Đại hội VII năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam đã mạnh dạn đề ra những đường lối, chủ trương đổi mới mạnh mẽ và toàn diện nền kinh tế, tiến hành CNH, HĐH đất nước. Thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội được triển khai đồng bộ trong đó có chính sách phát triển KCN, KCX. Định hướng quy hoạch phát triển KCN, KCX được khẳng định tại các văn kiện chính thức từ năm 1996 với chiến lược về quy hoạch phát triển và phân bố KCN, KCX:

- “Hình thành các KCN tập trung (bao gồm cả KCX và khu công nghệ cao), tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới. Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị. Ở các thành phố, thị xã, nâng cấp, cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng các KCN mới xen lẫn với khu dân cư”.1

- “Quy hoạch phân bố hợp lý công nghiệp trên cả nước. Phát triển có hiệu quả các KCN, KCX, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn và các khu kinh tế mở”.2

- “Phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế, nâng cao hiệu quả các KCN, KCX”.3

- “Bố trí hợp lý công nghiệp trên các vùng; phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm, tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao… đến năm 2020 tất cả các cụm, KCN, KCX có hệ thống xử lý nước thải tập trung…”.4

- KCN, KCX đã có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng ngành sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả nước theo hướng CNH, HĐH… Các KCN đã tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp 2 triệu USD/ha; giá trị xuất khẩu 1,27 triệu USD/ha; nộp ngân sách khoảng 1,38 tỷ đồng/ha; tốc độ gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều cao hơn tốc độ của cả nước.

- KCN, KCX cũng đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, có giá trị lâu dài, góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước.

- Phát triển các KCN, KCX cũng đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động. Đến hết năm 2011, các KCN, KCX đã giải quyết việc làm cho hơn 1,7 triệu lao động, trung bình 77 lao động/ha đất công nghiệp.5 Đồng thời tạo môi trường thuận lợi để hình thành một đội ngũ doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN, KCX trong nước có năng lực tài chính, quản lý, có uy tín và kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN, đặc biệt tại một số địa phương ở các vùng kinh tế trọng điểm như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương.

- Góp phần tích cực vào bảo vệ môi trường sinh thái. 65% tổng số khu công nghiệp đã vận hành có nhà máy xử lý nước thải tập trung.

2. Hiện trạng quy hoạch và phát triển KCN

Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển (1991 - 2011), các KCN, KCX ở nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, góp phần phát huy những tiềm năng, lợi thế trên từng vùng, từng địa bàn cho phát triển công nghiệp hàng hóa quy mô ngày càng lớn, đóng góp xứng đáng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu các vùng và địa phương.

- Về quy hoạch KCN: Quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 được phê duyệt tại Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ.6 Ở các địa phương, quy hoạch các KCN, KCX phải phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển công nghiệp của địa phương. Các đề án quy hoạch tổng thể phát triển KCN của các địa phương được Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Quy hoạch phát triển các KCN cả nước đến năm 2020 (trên cơ sở tổng hợp các đề án quy hoạch KCN của các địa phương) hiện đang được hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.

Tính đến nay, cả nước đã có 283 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 76.000 ha7, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 46.000 ha, chiếm khoảng 61% tổng diện tích đất tự nhiên của các KCN với quy mô trung bình của KCN, KCX là 268 ha, vùng Đông Nam Bộ có quy mô KCN trung bình cao nhất (378,3 ha). Ở các vùng có điều kiện khó khăn hơn cho phát triển công nghiệp quy mô lớn các KCN, KCX, diện tích trung bình thấp hơn so với các vùng khác (vùng Trung du miền núi phía Bắc -154,9 ha, Tây Nguyên - 157,6 ha). Trong số 283 KCN đã thành lập, có 180 KCN đã đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng đăng ký là 5,3 tỷ USD, vốn thực hiện đạt gần 3,2 tỷ USD; còn lại 103 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản.

- Quy hoạch và đầu tư phát triển hạ tầng KCN:

Phát triển kết cấu hạ tầng các KCN, KCX là một trong những hướng chủ đạo góp phần thực hiện những mục tiêu then chốt của quá trình CNH đất nước, tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, có giá trị lâu dài, góp phần HĐH hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước.

Quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng KCN, KCX được tính toán kết nối với kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào KCN, KCX, vừa có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thứ cấp trong việc triển khai nhanh dự án sản xuất kinh doanh, vừa góp phần cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng nông thôn của các địa phương phục vụ tích cực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả nước. Hình thức đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đa dạng và phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương. Trong 283 KCN đã thành lập có 31 KCN do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm chủ đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 2 tỷ USD. Ở những địa phương ít lợi thế và điều kiện phát triển công nghiệp các công ty phát triển hạ tầng KCN hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp có thu làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khoảng 1,5 tỷ USD, sử dụng nguồn vốn nhà nước hỗ trợ một phần cho xây dựng kết cấu hạ tầng KCN thời gian đầu, làm cơ sở huy động các nguồn vốn khác.

- Đầu tư thực hiện quy hoạch: Với các chính sách ưu đãi, những điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng và thủ tục hành chính giản đơn, các KCN, KCX đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. KCN, KCX được đầu tư theo hướng phát huy nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, trong đó khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là chủ yếu. Tính đến cuối tháng 12.2011, các KCN, KCX đã thu hút được hơn 8.500 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư 70 tỷ USD, trong đó 4.113 dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 59,6 tỷ USD. Hàng năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX chiếm từ 35 - 40% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký tăng thêm của cả nước, gần 80% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp cả nước.8

Ngoài những đóng góp đáng kể trong thu hút đầu tư nước ngoài, KCN, KCX còn là một trong những giải pháp để thực hiện chủ trương phát huy nội lực của các thành phần kinh tế trong nước. Nếu như trong kế hoạch 5 năm 1991 - 1995, chỉ có gần 50 dự án đầu tư trong nước đầu tư vào các KCN, KCX, thì đến kế hoạch 5 năm 1996 - 2000 số dự án trong nước đã tăng thêm đạt 450 dự án, 5 năm 2001 - 2005 thu hút được 1.870 dự án, năm 2006 - 2010 thu hút được 2.010 dự án. Tổng vốn đầu tư trong nước tăng thêm tương ứng trong các thời kỳ kế hoạch là 200 tỷ đồng (1991 - 1995), 35.000 tỷ đồng (1996 - 2000), 80.000 tỷ đồng (2001 - 2005) và 218.860 tỷ đồng (2006 - 2010). Đến cuối tháng 12.2011, có 4.681 dự án trong nước còn hiệu lực trong các KCN, KCX với tổng vốn đầu tư xấp xỉ 420 nghìn tỷ đồng.

Tổng vốn đầu tư trung bình trên 1 ha đất công nghiệp là 1,2 triệu USD/ha năm 2001, gần 2 triệu USD/ha năm 2005 và 3,5 triệu USD/ha năm 2010. Tỷ lệ lấp đầy các KCN, KCX đã vận hành tăng đều hàng năm từ 40% năm 1996 lên 55% năm 2001, lên 65% năm 2010. Tính đến 12.2011, tổng diện tích đất công nghiệp đã quy hoạch của các KCN là 30.000 ha, trong đó đã cho thuê được 19.300 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 65%.

KCN, KCX tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp mỗi năm từ 20 - 25 tỷ USD. Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp KCN, KCX trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước đã tăng lên đáng kể từ mức 17% năm 2001 lên khoảng 30% năm 2010.9

- Vấn đề điều chỉnh quy hoạch:

Theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP, điều kiện lập mới là phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển KCN đã được phê duyệt; tổng diện tích đất công nghiệp của các KCN đã cho các dự án đăng ký đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư thuê đất, thuê lại đất ít nhất là 60%. Đối với các đề xuất mở rộng KCN, ngoài các điều kiện nêu trên KCN phải xây dựng xong và đưa vào sử dụng công trình xử lý nước thải tập trung.

Đối với việc bổ sung KCN vào Quy hoạch tổng thể phát triển KCN điều kiện tiên quyết là đề xuất phải:

+ Phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng vùng và đô thị, quy hoạch kết cấu hạ tầng - kỹ thuật, quy hoạch sử dụng khoáng sản và các nguồn tài nguyên khác;

+ Có các điều kiện thuận lợi hoặc có khả năng xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, đảm bảo tính đồng bộ và kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch phát triển KCN với quy hoạch phát triển đô thị, phân bố dân cư, nhà ở và các công trình xã hội phục vụ lao động của KCN;

+ Có đủ điều kiện để phát triển KCN gồm quỹ đất dự trữ để phát triển, có điều kiện liên kết thành cụm các KCN; có khả năng thu hút vốn đầu tư phát triển KCN; đáp ứng nhu cầu về lao động; phù hợp với bố trí quốc phòng và các yêu cầu về quốc phòng, an ninh.

Trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch phát triển KCN, các địa phương đã đề xuất điều chỉnh, bổ sung thêm các KCN theo điều kiện, nhu cầu phát triển của các địa phương. Các tiêu chí quy định trong Nghị định 29 đã được xem xét, cân nhắc. Tuy nhiên, tiêu chí về tính đồng bộ và phù hợp với hàng loạt các quy hoạch mà phần lớn các quy hoạch này không được xây dựng đồng bộ, đồng thời tiêu chí về điều kiện liên kết các KCN thành các "cụm" đúng nghĩa của nó cũng như khả năng thu hút vốn đầu tư là những tiêu chí định tính, vừa khó vừa dễ trong quá trình xem xét ra quyết định. Chính vì vậy, chỉ tiêu trần về tổng diện tích đất KCN quy định trong Quy hoạch tổng thể sử dụng đất toàn quốc10 và Quy hoạch phát triển các KCN toàn quốc còn rất khác nhau, việc đánh giá thực hiện cũng thật khó khăn.

3. Những hạn chế chủ yếu của quy hoạch phát triển KCN

Phát triển KCN, KCX thời gian qua cũng gặp phải không ít những khó khăn, hạn chế; vướng mắc về chất lượng quy hoạch, chất lượng đầu tư, hiệu quả sử dụng đất, huy động nguồn lực đầu tư phát triển. Bên cạnh đó là vấn đề ô nhiễm môi trường; thu nhập, đời sống, nhà ở của người lao động... Trong đó chủ yếu là:

+ Quy hoạch còn thiếu tầm nhìn chiến lược, khi chưa có quy hoạch hệ thống KCN được xây dựng độc lập trên địa bàn từng tỉnh thể hiện tính cát cứ do thiếu xử lý liên kết ngành giữa các địa phương. Quy hoạch hệ thống các KCN, KCX lại yếu ở khâu cụ thể hóa cho các vùng vì nhiều nguyên nhân. Trong quá trình thực hiện quy hoạch phát triển KCN toàn quốc, các địa phương lại đề xuất bổ sung, điều chỉnh quy mô các KCN thuộc địa bàn quản lý của mình làm cho bức tranh chung bị thay đổi một cách bị động.

+ Tính khả thi của quy hoạch chưa cao do các mục tiêu quy hoạch được xác định độc lập với quy hoạch chung xây dựng vùng, thiếu gắn kết với quy hoạch phát triển các ngành đảm bảo nguyên liệu, nhân lực, thị trường sản phẩm.

+ Kết cấu hạ tầng KCN là xương sống làm nên thành công đối với việc thực thi quy hoạch lại không được thiết kế đồng bộ với quy hoạch kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào theo nghĩa rộng, tức là không chỉ giới hạn ở việc kết nối giữa "trong" và "ngoài hàng rào" mà còn phải tạo sự đồng bộ, khép kín của hệ thống hạ tầng kỹ thuật Vùng, chính vì vậy sự lãng phí vẫn xảy ra trong khi vốn xây dựng hạ tầng có giới hạn.

+ Quy hoạch sử dụng đất các KCN được thể hiện trong quy hoạch chi tiết KCN khi bố trí các phân khu chức năng, các khu đất xây dựng các công trình công nghiệp; trung tâm dịch vụ công cộng; khu cây xanh; các công trình hạ tầng (giao thông, cấp năng lượng, chiếu sáng, cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc); các khu cảnh quan thiên nhiên cần tôn tạo, bảo tồn, các công trình hạ tầng xã hội phục vụ KCN, các công trình đấu nối với hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào...

+ Đánh giá môi trường chiến lược hệ thống KCN, KCX được xác định là bắt buộc đối với các dự án quy hoạch phát triển hệ thống KCN, KCX.11 Tuy nhiên, hệ thống KCN được lập quy hoạch cho toàn quốc, trong khi các vấn đề môi trường KCN lại mang tính vùng và địa phương một cách rõ nét. Đánh giá tác động môi trường các dự án được triển khai cho từng dự án, tác động tích lũy chưa được xem xét.

+ Cơ chế, chính sách ưu tiên phát triển KCN trong một thời đoạn dài đã thể hiện tính thái quá trong việc hỗ trợ "phát triển nóng" các ngành công nghiệp và các KCN một mặt không đảm bảo tạo ra các đột phá tức thì về tăng trưởng, mặt khác gây lãng phí tài nguyên đất do diện tích quy hoạch KCN không đảm bảo tiến độ lấp đầy theo quy định của Nghị định 29/NĐ-CP. Các hậu quả xã hội đối với các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất cũng có một phần nguyên nhân ở đây.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới những hạn chế này, trong đó một nguyên nhân quan trọng là cơ chế, chính sách về KCN, KCX tuy đã tương đối hoàn thiện song vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất, đồng bộ. Việc phân công trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước chưa rõ ràng; quyền lợi, trách nhiệm chưa gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát, chế tài khuyến khích và xử phạt thực sự chặt chẽ.

4. Nguyên nhân của những hạn chế trong quy hoạch KCN

- Thứ nhất, quan niệm về quy hoạch phát triển KCN trong giới khoa học và quản lý còn chưa rõ ràng và thống nhất, thực chất đây không phải là quy hoạch phát triển công nghiệp theo lãnh thổ như cách hiểu theo lối mòn cũ mà là quy hoạch tổng hợp sử dụng không gian cho các hoạt động công nghiệp, dịch vụ và đôi khi các ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản cung cấp nguyên liệu, quy hoạch phát triển các lĩnh vực xã hội, bảo vệ môi trường... Chính vì vậy, công nghệ sử dụng trong khi xây dựng quy hoạch phải là quy hoạch không gian với những công nghệ hiện đại, xử lý liên ngành với các tiêu chí dễ so sánh, kiểm chứng và đánh giá sau này. Việc này hiện nay chưa thực hiện được.

- Thứ hai, về kỹ thuật, mặc dù các văn bản pháp quy về KCN, KCX, về quy hoạch xây dựng quy định yêu cầu nội dung và thủ tục quy hoạch KCN và đánh giá môi trường chiến lược KCN… song hướng dẫn kỹ thuật, trong đó có các định mức kinh tế, kỹ thuật quy hoạch còn thiếu, việc đánh giá, thẩm định các quy hoạch KCN và đánh giá thực hiện quy hoạch cũng gặp những khó khăn.

-  Thứ ba, khác với những quy hoạch không gian cứng nhắc về phát triển đô thị, quy hoạch hệ thống các công trình hạ tầng quy hoạch KCN theo quy định pháp lý hiện hành còn phải gồm cả nội dung quy hoạch đầu tư (đảm bảo khả năng thu hút đầu tư thực hiện quy hoạch). Đây là bài toán tổng hợp bao gồm cả việc sử dụng công cụ phân tích đối tác, thương thảo... Các nhà quản lý của Việt Nam hiện đang dùng phương pháp đơn giản là cộng dồn những dự án có nhà đầu tư tới đặt vấn đề. Cách làm này thể hiện tính thụ động của những người làm chủ ở các KCN và chỉ phù hợp với giai đoạn đầu phát triển KCN, khi ta còn trải thảm đỏ để chào mời.

- Thứ tư, về quản lý quy hoạch KCN: Văn bản pháp quy quy định quyền của các bên như sau:

+ Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập KKT, phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng KKT; cho phép mở rộng và điều chỉnh giảm quy mô diện tích, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã được phê duyệt trong KCN, các khu chức năng trong KKT; quyết định thành lập, mở rộng KCN chưa có trong Quy hoạch tổng thể phát triển KCN đã được phê duyệt (sau khi có thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

+ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì xây dựng quy hoạch phát triển KCN, KKT trên địa bàn tỉnh, quy hoạch chung xây dựng đối với KCN; phê duyệt đồ án quy hoạch chung xây dựng và quy hoạch chi tiết xây dựng KCN12; quyết định thành lập, mở rộng KCN đã có trong Quy hoạch tổng thể phát triển KCN hoặc có trong Quy hoạch chung xây dựng KKT đã được phê duyệt.

+ Bộ Xây dựng hướng dẫn việc lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng KKT, KCN và quy hoạch chi tiết xây dựng KCN.

+ Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn Ban Quản lý KCN thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường trong KCN, KKT theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

+ Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về công nghiệp, hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động thương mại trong KCN, KKT; chỉ đạo phát triển các ngành công nghiệp trong KCN, KKT theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp vùng và lãnh thổ đã được phê duyệt.

+ Ban Quản lý thực hiện theo quy định của pháp luật và theo hướng dẫn hoặc ủy quyền của các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh nhiệm vụ quản lý, phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính việc thực hiện quy định, quy hoạch, kế hoạch; điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng đã được phê duyệt của KCN, các khu chức năng trong KKT nhưng không làm thay đổi chức năng sử dụng khu đất và cơ cấu quy hoạch.

Ở đây, có 3 vấn đề :

+ Sự phân cấp quản lý bao gồm cả việc trao quyền đề xuất các điều chỉnh số lượng khu và diện tích từng khu cho UBND cấp tỉnh đã tạo điều kiện cho địa phương độc lập đề xuất theo yêu cầu của mình mà không tính đến khả năng liên kết, phối hợp với các địa phương khác liền kề. Trong xây dựng quy hoạch KCN cũng vậy, việc UBND tỉnh được quyền độc lập chủ trì xây dựng quy hoạch KCN trên địa bàn thuộc quyền quản lý thường cũng bắt đầu từ xuất phát điểm là nhu cầu cục bộ của địa phương. Hệ thống hạ tầng của các KCN thuộc các địa phương khác nhau mặc dù có thể rất gần nhau về địa lý nhưng khó có thể thực hiện việc điều phối đầu tư xây dựng để sử dụng chung, cũng chính vì thế sự kết nối khó mang tính bản chất.

+ Phân nhiệm đối với các Bộ ngành theo chức năng quản lý nhà nước được Chính phủ giao không có gì sai. Song nếu nhìn vào đóng góp của các KCN về giá trị sản xuất (GTSX) so với toàn ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hay giá trị xuất khẩu so với tổng kim ngạch xuất khẩu trên toàn quốc thì có thể thấy rằng tỷ trọng thuộc về KCN vốn đã lớn còn có thể lớn hơn nếu các KCN được quy hoạch bài bản, đầu tư vào KCN thực sự hiệu quả hơn hiện nay. Trong trường hợp đó, Bộ Công thương và các cơ quan trực thuộc với tư cách là chủ thể quản lý ngành cần có đóng góp trong thiết kế các định hướng chiến lược phát triển công nghiệp quy mô lớn ở giai đoạn quy hoạch và có chức năng giám sát, theo dõi thực hiện các mục tiêu phát triển trong quá trình phát triển các KCN trên toàn quốc.

+ Quy trình điều chỉnh quy hoạch KCN chưa đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ, từ đó hiệu quả phát triển công nghiệp tập trung, tính cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam nói chung được cải thiện.

- Và cuối cùng, đội ngũ chuyên gia quy hoạch tham gia làm tư vấn quy hoạch KCN thường là các chuyên gia quy hoạch xây dựng, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, trình độ chuyên môn sâu về phát triển KCN còn hạn chế.

5. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy hoạch KCN ở vùng duyên hải miền Trung

Khác với các vùng thuận lợi về cơ sở hạ tầng, duyên hải miền Trung là vùng khởi động chậm hơn trong tiến trình đẩy mạnh phát triển công nghiệp tập trung quy mô lớn. Các lợi thế so sánh của miền Trung về địa lý kinh tế mới chỉ được quan tâm trong vòng một thập kỷ gần đây. Và rất nhanh chóng, tại Vùng đã hình thành 35 KCN với tổng diện tích 7.562 ha (gần bằng 10% diện tích các KCN trên toàn quốc). Trong đó 23 KCN đã đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy diện tích công nghiệp gần 60%. Tuy nhiên, xét trên bình diện toàn Vùng thì diện tích các KCN chưa đưa vào khai thác còn lớn (60%). Vốn đầu tư trên một ha đất công nghiệp là 31,5 tỷ đồng, trong khi trị số của toàn quốc là 85 tỷ đồng. Có thể thấy rằng các KCN ở miền Trung vừa nhỏ về quy mô vừa thấp về mật độ đầu tư. Nếu miền Trung chiếm 12,4% số KCN, 9,95% tổng diện tích các KCN thì tổng đầu tư vào các KCN miền Trung mới chiếm 3,43% so với toàn quốc, vốn đầu tư/ha đất công nghiệp chỉ bằng 37,02% so với trung bình toàn quốc và GTSX của các KCN miền Trung chỉ bằng 1,45% so với GTSX các KCN trên toàn quốc. Điều này đặt ra câu hỏi cho các nhà nghiên cứu và quản lý về hiệu quả đầu tư các KCN ở vùng này và nguyên nhân dẫn tới hiệu quả thấp trong phát triển KCN.

Những nguyên nhân chủ yếu liên quan đến quy hoạch có thể kể đến là:

Thứ nhất, tính cục bộ, địa phương trong quy hoạch và phát triển các KCN còn phổ biến. Yêu cầu liên kết vùng, liên kết ngành, khắc phục trùng lặp, chồng chéo còn chưa được đặt ra. Sự hợp tác, phối hợp giữa các địa phương cũng như giữa các Ban quản lý KCN trong Vùng còn chưa chặt chẽ. Các KCN có chức năng tương tự như nhau, do đó đã không khai thác được các tiềm năng, lợi thế so sánh và chưa tạo được sự hỗ trợ và bổ sung cần thiết cho nhau.

Thứ hai, việc thành lập nhiều KCN trong một thời gian ngắn tại các tỉnh, thành phố trong Vùng đã làm cho nguồn lực đầu tư bị dàn trải, tốn kém đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, gây lãng phí đất đai…

Thứ ba, trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch công tác xúc tiến đầu tư còn chưa hiệu quả, chương trình xúc tiến đầu tư vào KCN hiện chưa được xây dựng đồng bộ, thống nhất giữa các các tỉnh/thành phố trong Vùng và liên kết với chương trình của Trung ương, chưa kiên quyết trong việc định hướng thu hút được các dự án đầu tư thuộc các ngành yêu cầu hàm lượng công nghệ cao, đảm bảo phát triển hiệu quả và bền vững. Đầu tư vào các KCN được điều chỉnh khá linh động, đôi khi không theo quy hoạch nên việc giám sát đánh giá còn khó khăn.

Một số chỉ tiêu phát triển KCN vùng duyên hải miền Trung

Tỉnh/Vùng

Số KCN

KCN đã hoạt động

Tỷ lệ lấp đầy KCN đã hoạt động, %

Tỷ lệ lấp đầy KCN tỉnh, %

Tổng đầu tư KCN, tỷ VND

Đầu tư/ha đất CN, tỷ đồng/ha

Thừa Thiên Huế

6

2

29,7

18,78

8.999,2

43,22

Đà Nẵng

6

6

64,6

77,1

21.557,8

39,81

Quảng Nam

6

5

50,0

37,29

8.676,7

32,14

Quảng Ngãi

3

2

68,3

44,42

4.961,7

37,56

Bình Định

5

3

91,5

37,41

6.110,1

16,79

Phú Yên

4

4

84,6

84,55

2.718,9

13,42

Khánh Hòa

5

1

78,7

13,21

3.258,5

47,36

DHMT

35

23

59,6

39,14

56.282,9

31,49

Toàn quốc

283

180

65,0

41,96

1.641.800

85,07

DHMT/Toàn quốc

12,37

12,78

91,73

93,29

3,43

37,02

Nguồn: Điều tra kinh tế - xã hội của Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng và số liệu tổng hợp KCN toàn quốc đến hết năm 2011.

Thực hiện chủ trương phát triển KCN, KCX bền vững của Đảng và Chính phủ được khẳng định trong các văn kiện quan trọng gần đây là “Bố trí hợp lý công nghiệp trên các vùng; phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm, tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao”13; “Phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế. Không lấy đất lúa để xây dựng các khu công nghiệp mới. Đến năm 2015, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu nhà ở và các hạ tầng xã hội thiết yếu như nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, cơ sở khám chữa bệnh... cho lao động các khu công nghiệp. Đến năm 2020, hoàn chỉnh các công trình kết cấu hạ tầng trong các khu công nghiệp, khu kinh tế, đặc biệt là các công trình hạ tầng xã hội và xử lý nước thải, rác thải”.14 Trong giai đoạn tới, vùng duyên hải miền Trung cần triển khai một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch KCN. Đó là:

- Rà soát, đánh giá toàn diện tiềm năng phát triển công nghiệp quy mô lớn (theo phân ngành hoặc theo sản phẩm có thị trường lớn), tình hình thực hiện quy hoạch các KCN để đề xuất điều chỉnh hoặc xây dựng quy hoạch hệ thống KCN Vùng trên cơ sở hình hài các cụm liên kết ngành trong nội bộ vùng, thu hút các ngành có công nghệ tiên tiến, có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường nhằm nâng cao tính liên kết theo ngành và theo lãnh thổ của các KCN, khắc phục tính dàn trải và trùng lắp trong bố trí các KCN giữa các tỉnh.

- Rà soát, điều chỉnh nhằm đồng bộ hóa và HĐH hệ thống kết cấu hạ tầng KCN đảm bảo tính kết nối giữa các loại hạ tầng và giữa hạ tầng kỹ thuật với các công trình tiện ích công cộng, đặc biệt là hạ tầng các khu tái định cư cho người dân có đất bị thu hồi.

- Nghiên cứu đóng góp vào việc hoàn thiện thể chế quản lý quy hoạch KCN theo hướng điều chỉnh cơ chế phân công, phân cấp, ủy quyền và phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, khép kín quy trình quy hoạch và đầu tư phát triển KCN trong mối liên hoàn giữa quản lý ngành và lãnh thổ với việc củng cố và đẩy mạnh hợp tác nội vùng có sự tham gia của các ngành.

- Điều chỉnh quy trình quản lý thực hiện quy hoạch phát triển KCN thực hiện phát triển KCN theo quy hoạch, có phân kỳ hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, sử dụng tiết kiệm các tài nguyên đất, nước và bảo vệ môi trường.

- Xây dựng và triển khai kế hoạch xúc tiến đầu tư vào KCN, KKT trong Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia.

- Bổ sung và nâng cấp cơ chế phản hồi và chia sẻ thông tin giữa các tỉnh, giữa các Ban quản lý KCN hiện nay nhằm đồng bộ hóa các cơ sở ra quyết định đối với Vùng và tạo tiếng nói chung về những đề xuất cải tiến quy trình lập quy hoạch KCN, xúc tiến đầu tư vào các KCN trong Vùng và giám sát, đánh giá thực hiện quy hoạch phát triển KCN của Vùng nói riêng và quy hoạch phát triển KCN cả nước nói chung.

Với những nỗ lực trong việc tạo lập sự nhất trí nhằm xác định đúng tiềm năng, thế mạnh đặc thù của từng khu vực trong phát triển các phân ngành công nghiệp, các sản phẩm chủ lực trên cơ sở một hệ thống tiêu chí khoa học, sự hợp tác, đồng lòng của chính quyền và nhân dân các tỉnh trong Vùng và sự hỗ trợ kịp thời và có hiệu quả của Trung ương, nhất định các KCN ở duyên hải miền Trung sẽ phát triển vững chắc và hiệu quả hơn trong tương lai gần.

Chú thích:

[1] Văn kiện Đại hội Đảng VIII, 1996

2 Văn kiện Đại hội Đảng IX, 2001

3 Văn kiện Đại hội Đảng X, 2006

4 Văn kiện Đại hội Đảng XI, 2011

5 KKT, KCN - mô hình đột phá - Vietnam.net 20.2.2012

6 Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21.8.2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.

7 QĐ 1107/QĐ-TTg là 40 - 50 ngàn ha năm 2010, 65 - 70 ngàn ha năm 2015.

8 Nguồn tin: http://www.khucongnghiep.com.vn

9 TS Phạm Thanh Hà - Các khu công nghiệp ở Việt Nam: Hướng tới sự phát triển bền vững - Báo Nhân dân điện tử

10 Theo Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) và Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 đã được Quốc hội khóa VIII phê duyệt, tổng diện tích đất KCN đến năm 2015 là 130.000 ha và đến năm 2020 dự kiến là 200.000 ha.

11 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 04 năm 2011 Quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, Phụ lục I, Mục B.

12 Thông tư số 19/2008/TT-BXD ngày 20 tháng 11 năm 2008 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện việc lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng KCN, KKT

13 Nghị quyết Đại hội Đảng XI, 2011.

14 Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 BCH Trung ương Đảng khóa XI

 

Vietccr.vn

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
Tin đọc nhiều
51.183 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
24.620 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
23.140 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
22.601 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
19.218 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
16.668 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p