8:29 11/04/2016
Cỡ chữ

PGS.TS. BÙI QUANG BÌNH

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Tăng trưởng kinh tế phản ánh kết quả hoạt động sản xuất của nền kinh tế và do cách thức tạo ra tăng trưởng quyết định. Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đang thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế (MHTTKT), với cách thức tạo ra tăng trưởng mới dựa nhiều vào các nhân tố chiều sâu và hiệu quả hơn. Nhưng năm qua, kinh tế miền Trung - Tây Nguyên (MT-TN) đã đạt được mức tăng trưởng khá cao, trung bình hơn 10%. Tuy nhiên vẫn có sự khác biệt về trình độ phát triển giữa các vùng ở MT-TN do nhiều lý do mà một trong đó là sự thiếu phối hợp liên kết giữa các vùng. Đổi mới MHTTKT cũng là đổi mới cách thức vận hành nền kinh tế, trong đó cần điều chỉnh cơ chế liên kết vùng trong tăng trưởng. Nghiên cứu này sẽ chỉ ra mối quan hệ giữa đổi mới MHTT và liên kết vùng về lý thuyết, sử dụng cơsở lý thuyết này và phương pháp phân tích thống kê, so sánh và suy diễn … để chỉ ra những thành công trong tăng trưởng kinh tế, liên kết vùng và đề xuất giải pháp thực hiện liên kết vùng.

1. Đổi mới MHTTKT và liên kết vùng trong lý thuyết

Cụm từ mô hình tăng trưởng kinh tế được đề cập tới rất nhiều và theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tăng trưởng của nền kinh tế chỉ là kết quả cuối cùng của các hoạt động trong nền kinh tế và phản ánh tình trạng năng lực của nền kinh tế được phát huy thế nào. Tăng trưởng kinh tế thể hiện trên khía cạnh tổng cung và tổng cầu. Dướigóc độ tổng cung, tăng trưởng thể hiện mức sản lượng của nền kinh tế gia tăng ổn định trong dài hạn xoay quanh mức tiềm năng (Mankiw (2000)) và sự tăng lên không ngừng phúc lợi cuộc sống của người dân. Sự tăng trưởng phải bảo đảm một cấu trúc kinh tế nhất định và luôn được dịch chuyển (tái cấu trúc) phù hợp (Joseph E.Stiglitz (2002), Zhao Guohao (2006)). Sau này Bùi Quang Bình (2010) trên cơ sở đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam những năm đổi mớicũng khẳng định phải tái cấu trúc kinh tế mới thực hiện được mục tiêu đó. Tăng trưởng phải dựa vào các nhân tố chiều sâu như lý thuyết tăng trưởng nội sinhvới các nghiên cứu của Kenneth, J. Arrow (1962), Paul M. Romer (1990), N, Gregory Mankiw, David Romer và David, N Weil (1992) đã chỉ ra. Lý thuyết này đã giải thích nguồn gốc tăng trưởng từ tiến bộ công nghệ nội sinh với giả thiết công nghệ không có tính cạnh tranh và cũng chỉra cách thức để các nước nghèo có thểvươn lên thoát nghèo, thịnh vượng và tiến kịp các nước phát triển nếu họ biết đầu tư thích đáng vào vốn con người để tăng trường nhanh và duy trì dài hạn. Mô hình tăng trưởng nội sinh cũng đề cao vai trò của chính phủ trong việc đầu tư nhiều vào giáo dục cũng như khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào ngành công nghiệp thâm dụng công nghệ như cách thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế dưới góc độ tổng cầubắt đầu từ Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ của Keynes năm 1936. Sau này được Paul Saumelson, W. N (1989) phát triển khi đưa ra mô hình số nhân để chỉ ra tác động của việc gia tăng chi tiêu của các tác nhân trong nền kinh tế. Mankiw (2000) giải thích kỹ hơn cơ chế tác động của mô hình số nhân chi tiêu và thuế thông qua vòng lặp tác động của các khoàn chi tiêu.Thông qua cơ chế tác động này, các tác giả đã chỉ ra vai trò của các chính sách của chính phủ có ảnh hưởng tới các thành tố của tổng cầu, đồng thời cũng chỉ ra chúng không chỉcó tính chất nội sinh về phía tổng cung. Sự tác động từgia tăng tổng cầu tới tăng trưởng kinh tế còn gắn liền với những thay đổi việc làm và thất nghiệp của nền kinh tế. Như vậy tăng trưởng kinh tế theo các nghiên cứu phải:(i) dựa vào mở rộng khai thác vốn, lao động và tài nguyên hay tiến bộ kỹ thuật công nghệ, nguồn nhân lực có chất lượng cao và một cơ chế quản lý hiệu quả trên góc độ tổng cung; (ii) dựa vào thỏa mãn mức tiêu dùng cho người dân cao có thể với tỷ lệ tích lũy phù hợp trên góc độ tổng cầu. Từ cách tiếp cận này có thể thấy mô hình tăng trưởng kinh tế là cách thức vận hành nền kinh tế để duy trì năng lực sản xuất mở rộng không ngừng và phân bổ sản lượng tạo ra tương xứng với năng lực đó và gắn với các đặc trưng sau: Cách thức vận hành nền kinh tế trong đó vai trò của thị trường và Nhà nước có tầm quan trọng nhất định; Bảo đảm cho huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực trong nước và bên ngoài để tạo ra năng lực sản xuất ngày càng mở rộng và có chiều sâu hiệu quả; Thực hiện phân phối kết quả cho tiêu dùng hiện tại và tương lai, thúc đẩy tăng tổng cầu trên thị trường trong và ngoài nước và đảm bảo tự chủ cao; Đạt và duy trì mức sản lượng GDP được duy trì tương xứng với tiềm năng của nền kinh tế.

Trên quan điểm hệ thống, quá trình đổi mới MHTTKT Việt Nam vừa đòi hỏi, vừa tác động tới mô hình tăng trưởng kinh tế mỗi vùng.Miền Trung - Tây Nguyêncó những đặc thù kinh tế - xã hội riêng mà trong đó cơ chế liên kết vùng của các tỉnh ở đây là một. Cơ chế này đã và đang được vận hành và có tác động chung tới nền kinh tếcũng như đang là một yếu tố cấu thành trong cách thức vận hành nền kinh tế của vùng và các địa phương ở đây.

Liên kết vùng trong phát triển kinh tế là một phương thức đã xuất hiện từ lâu trong hoạt động kinh tế, là sự hợp tác của hai hay nhiều bên và trong quá trình hoạt động, cùng mang lại lợi ích cho các bên tham gia. Trong công trình của Perroux (1955) trong tác phẩm "Những nguyên lý kinh tế học", ông đã bàn tới liên kết vùng theo cách tiếp cận tính lan tỏa dựa vào lý thuyết về “cực tăng trưởng”. Các cực tăng trưởng này có sức lan tỏa, và sức hút dòng hàng hóa nguyên liệu và lao động trong các khu vực khác của vùng và ngoài vùng. Sự tác động lan tỏa này sẽ thúc đẩy hình thành không gian liên kết kinh tế và mạng lưới buôn bán, và hình thành một tập hợp các liên kết kinh tế giữa cực tăng trưởng và các vùng xung quanh. Jacques Raoul Boudeville (1966) đã phân tích các vấn đề quy hoạch phát triển vùng dựa trên nguyên lý phân tích các lợi thế phát triển và cực tăng trưởng trong các vùng cụ thể. Ông cho rằng, những phân tích về các nguồn lực phát triển, năng lực thương mại và chỉ ra được những lợi thế so sánh trong việc định hình phát triển vùng là cần thiết trong việc hoạch định kế hoạch phát triển vùng. Các liên kết sẽ được hình thành trong từng vùng với những lợi thế khác nhau của các địa phương sẽ tạo nên phân công lao động. Nó sẽ hình thành các trung tâm phát triển. Lý do của liên kết vùng theo theo Nguyễn Chiến Thắng (2013) bao gồm xử lý các vấn đề ngoại sinh trong hoạt động kinh tế như ô nhiễm các khu công nghiệp hay tác động của thủy điện tới hạ lưu..; giải quyết các vấn đề có tính liên vùng như tác động của biến đổi khí hậu, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật; tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô và đã dạng; và hỗ trợ chuỗi liên kết sản xuất. Như vậy, liên kết kinh tế là nhằm phối hợp hoạt động của các bên nhằm tận dụng thế mạnh, lợi thế so sánh của nhau; đồng thời khắc phục những điểm yếu, sử dụng hiệu quả các nguồn lực có hạn, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí để tạo ra những lợi ích lớn hơn và năng lực cạnh tranh cao hơn và có thể loại bỏ những cạnh tranh không lành mạnh. Liên kết vùng có các nguyên tắc cơ bản theo các nghiên cứu của các nhà kinh tế bao gồm: (i) Phân bố lãnh thổ các ngành và phân bố vùng phải dựa trên các lợi thế so sánh mà có thể làm cho tổng chi phí sản xuất và phân phối sản phẩm đến thị trường thấp nhất; (ii) Phải tối ưu hóa sử dụng nguồn lực khi nhiều địa phương cùng song hành sử dụng chúng để khắc phục được tình trạng giảm hiệu suất sử dụng nguồn lực và làm mất đi các lực liên kết vùng; (iii) Tận dụng tính kinh tế theo quy mô.

Từ những nội dung trên đây có thể thấy việc vận hành nền kinh tếtrong những năm tới ở MT-TN sẽ phải là sự lồng ghép và kết hợp giữa cơ chế vận hành của MHTTKT và cơ chế liên kết vùng. Bảo đảm cho nền kinh tế đạt được mục tiêu huy động, sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng và nguồn lực mở rộng không ngừng năng lực và nâng cao đời sống cho dân chúng.

2. Mô hình tăng trưởng kinh tế miền Trung -Tây Nguyên

2.1. Tình hình tăng trưởng kinh tế

Miền Trung -Tây Nguyên bao gồm 16 tỉnh thành phố như: (1) các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ (5 tỉnh) và (2) Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (7 tỉnh) và (3) Tây Nguyên (4 tỉnh, không bao gồm tỉnh Lâm Đồng). Vùng này có diện tích khoảng gần 150nghìn km2(gần 50% lãnh thổ Việt Nam) và trải dài theo ven biển miền Trung(khoảng 50% chiều dài bờ biển Việt Nam), ở đây, bình quân cứ 6 km2 đất liền có 1 km bờ biển, trong khi tiêu chí này của Việt Nam là 100 km2 mới có 1 km bờ biển. Toàn vùng có gần 22 triệu dân trong đó có 14 triệu người trong độ tuổi lao động (2014), chiếm 24,2% dân số Việt Nam. Với vị trí địa lý, tỷ trọng dân số, diện tích của khu vực này nên tăng trưởng kinh tế ở đây không chỉ bảo đảm cho sự phát triển kinh tế ở đây mà còn đóng góp lớn vào tăng trưởng chung của nền kinh tế Việt Nam.

Quy mô nền kinh tế MT-TN đã tăng đáng kể và ngày càng mở rộng trong giai đoạn 2000-2014. Theo giá so sánh năm 1994, năm 2000 quy mô GDP là hơn 47,6 nghìn tỷ đồng giá 1994, năm 2009 là 121,8 nghìn tỷ đồng, và năm 2014 là gần 210 nghìn tỷ đồng. Sau 14 năm quy mô nền kinh tế đã tăng gấp 4 lần. Quy mô GDP của MT-TN so với cả nước tăng từ 17% năm 2000 lên gần 28% năm 2014. Nhìn chung Tăng trưởng kinh tế nhanh, quy mô nền kinh tế ngày càng lớn hơn và vị thế trong nền kinh tế Việt Nam được khẳng định, công nghiệp -xây dựng (CN-XD) đang là động lực chính của tăng trưởng kinh tế.

Xu thế tăng lên của quy mô nền kinh tế được hỗ trợ bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh. Trong khoảng thời gian này tỷ lệ tăng trưởng thấp nhất là 7,6% năm 2000 và cao nhất 13,9% năm 2005, trung bình hơn 10%. Mức tăng trưởng này cao hơn trung bình của Việt Nam. Nếu theo từng giai đoạn thì trong giai đoạn 2000 -2003 tốc độ tăng trưởng chỉ khoảng 8,5%, nhưng từ 2004 tới 2014 nền kinh tế này luôn có tốc độ tăng gần 11%. Đây cũng là lý do giải thích quy mô nền kinh tế sau 7 năm tăng gấp 2 (theo quy tắc 70 trong lý thuyết kinh tế phát triển). Đây là cơ sở để cải thiện đời sống của dân cư ở đây. Ba vùng trong khu vực MT-TN có tốc độ tăng trưởng khá cao, trong đó nhanh nhất là Tây Nguyên với tỷ lệ tăng trưởng trung bình là 12,6%/năm. Duyên hải Nam Trung Bộ(DHNTB) có tốc độ tăng trưởng hơn 11,5% năm và Bắc Trung Bộ(BTB) là hơn 10%.  

2.2. Cơ chế vận hành nền kinh tế tạo ra tăng trưởng

Phần này sẽ xem xét cách thức vận hành của nền kinh tế tạo ra năng lực sản xuất của nền kinh tế của MT-TN. Điều này được xem xét qua cách thức phân bổ nguồn lực của nền kinh tế vùng MT-TN và phân phối sản lượng cho tiêu dùng hiện tại và tương lai.Cách thức này thể hiện qua cơ cấu sản lượng, cơ cấu các yếu tố sản xuất, cơ cấu phân bổ nguồn lực và cấu thành của tổng cầu.

2.2.1. Cơ cấu sản lượng

Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế; Tỷ trọng trong GDP của MT-TN của ngành nông -lâm -thủy sản từ 42,9% năm 2000 đã giảm xuống 32,7% năm 2009, hay giảm 15,5% trong 10 năm và 21.9% năm 2014 giảm 5% từ 2009 tới 2014. Tính chung từ 2000  đến 2014 tỷ trọng của nông nghiệp giảm 20,5%, tỷ lệ giảm rất ấn tượng nếu so với tình hình chung của Việt Nam. Tỷ trọng của công nghiệp -xây dụng (CN-XD) trong GDP đã tăng từ 23% năm 2000 lên 32,7% năm 2009 và 35,3% năm 2014, hay tăng 9,6% trong giai đoạn 2000 - 2009, tăng 2,6% từ 2009-2014 và tính chung là 12,2%. Tương tự ngành dịch vụ cũng thay đổi đáng kế, tăng từ 34,5% lên 42,8% trong khoảng 15 năm, tức tăng 8,2%. Như vậy tỷ lệ đóng góp vào GDP của các ngành ở MT-TN đã thể hiện rõ sự thay đổi cấu trúc nền kinh tế có tính công nghiệp hóa cao hơn.

Cơ cấu tạo ra tăng trưởng GDP của các ngành: Cơ cấu này là sự kết hợp giữa tốc độ tăng trưởng của các ngành và tỷ trọng giá trị gia tăng của các ngành trong GDP. Do đó thay đổi cơ cấu này thể hiện rõ hơn cấu trúc nền kinh tế. Tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng của ngành nông- lâm -thủy sản giảm rất rõ từ mức gần 26% năm 2000 xuống 12,9% năm 2009 và 9,3% năm 2014. Nghĩa là mức đóng góp đã giảm 13,05% trong giai đoạn 2000-2009, giảm 3,55% trong giai đoạn 2009-2013 và 16,6% trong giai đoạn 2000 - 2014. Cũng trong thời gian này, mức đóng góp của công nghiệp tăng chậm nhưng liên tục và tổng là 5,8%. Ngành dịch vụ đóng góp lớn nhất vào giai đoạn 2000-2009 và chậm lại giai đoạn 2009-2014. Như vậytăng trưởng kinh tế đang được tạo ra ngày càng nhiều của các ngành phi nông nghiệp. Quá trình tái cấu trúc đang nâng cao vai trò của ngành công nghiệp -xây dựng nhưng chưa phát huy được vai trò của ngành dịch vụ trong thúc đẩy tăng trưởng.

Cơ cấu GDP theo vùng của MT-TN: Với tốc độ tăng trưởng như nêu trên nên quy mô GDP của các vùng trong quy mô chung đã có sự thay đổi đáng kể trong thời gian qua. Tỷ trọng của nền kinh tế Bắc Trung Bộ trong tổng chung giảm từ 45,14% năm 1999 xuống còn hơn 42% năm 2009 và còn 40,7% năm 2014. Trong thời gian này GDP của duyên hải Nam Trung Bộ tăng từ 38,2% lên 40,1%, gần bằng với Bắc Trung Bộ. Tỷ trọng của nền kinh tế Tây Nguyên tăng từ 16,2% năm 1999 lên 19,6% năm 2014, tăng 3,4%. Nhìn chung cơ cấu GDP theo vùng đã có những dịch chuyển nhất định nhờ sự tăng trưởng mạnh của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nhưng vẫn còn chậm hơn kỳ vọng.

Nhìn chung cơ chế vận hành của nền kinh tế đã tạo ra cơ cấu sản lượng khá tích cực và hiện đại nhưng vẫn đang khác biệt lớn về trình độ giữa các vùng.

2.2.2. Cơ cấu các nhân tố sản xuất

A. Cơ cấu lao động

- Cơ cấu lao động theo ngành

Tỷ trọng lao động phân bổ cho nông nghiệp từ 75,8% năm 2000 giảm xuống 61,6% năm 2009 và 53,7% năm 2014. Nghĩa là giảm 14,3% từ 2000 tới 2009, và giảm 7,9% trong giai đoạn 2009-2014. Theo chiều ngược lại tỷ trọng lao động phân bổ cho CN-XD tăng từ 9,3% lên 13,2% trong thời gian này. Tỷ trọng của lao động phân bổ cho dịch vụ tăng mạnh từ 14,8% lên 33,2% trong giai đoạn này tức tăng 11,6% từ 2000 tới 2009, và 6,7% trong giai đoạn 2009-2014.Lao động được phân bổ cho nông - lâm - thủy sản luôn lớn nhất, hiện vẫn chiếm hơn 50%. Tỷ trọng lao động phân bổ cho dịch vụ và công nghiệp - xây dựng tăng dần nhưng vẫn còn chậm. Điều này hàm ý rằng nông nghiệp vẫn là ngành tạo ra nhiều việc làm và thu nhập nhất cho lao động.

Chuyển dịch cơ cấu (CDCC) ngành kinh tế ở từng vùng ở MT-TN.Ở vùng Bắc Trung Bộ, tỷ lệ lao động phân bổ cho nông - lâm - thủy sản lớn nhất, tuy có giảm từ 75,8% năm 1999 xuống 53,7% năm 2014, tức giảm 21,6%, thấp hơn mức thay đổi của cả khu vực MT-TN. Tỷ trọng lao động phân bổ cho CN-XD và dịch vụ cũng thấp hơn so với mức chung và thay đổi thấp. Ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có tỷ trọng lao động phân bổ cho nông - lâm - thủy sản thấp nhất khu vực và thấp hơn mức chung. Tỷ lệ này giảm từ mức 69,1% năm 2000 xuống còn 44,0% năm 2014, giảm 24,1% cao nhất ở MT-TN. Tỷ trong lao động phân bổ cho công nghiệp - xây dựng của vùng này đã tăng lên hơn 18% vào năm 2013, cao hơn tỷ lệ chung của MT-TN. Ở Tây Nguyên, tuy có xu hướng phân bổ lao động giống với xu hướng chung nhưng thay đổi chậm hơn và cũng lạc hậu hơn so với mức chung và cả hai vùng còn lại. Tỷ trọng lao động phân bổ cho nông nghiệp còn lớn, trong khi công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chưa thu hút được nhiều lao động.

Cấu trúc sản lượng của nền kinh tế theo thành phần kinh tế ở MT-TN đang nghiêng và chuyển dịch về phía khu vực kinh tế ngoài nhà nước, xu hướng này diễn ra trên tất cả các tỉnh thành ở đây. Tỷ trọng của khu vực nhà nước chỉ còn khoảng hơn 50% năm 2001 chỉ còn khoảng hơn 25,5% năm 2014.

Rõ ràng quá trình phân bổ lao động diễn ra không đồng đều dẫn tới cơ cấu lao động theo ngành của các vùng đang tồn tại những khác biệt khá lớn về trình độ.

- Cơ cấu lao động theo vùng ở MT-TN

Tỷ trọng lao động của vùng Bắc Trung Bộ chiếm khoảng 50% của MT-TN, trong khi Tây Nguyên chỉ chiếm khoảng 18%. Tỷ trọng lao động phân bổcho duyên hải Nam Trung Bộ đang giảm nhanh nhất, tiếp đó là Bắc Trung Bộ. Tây Nguyên có xu hướng tăng lên. Điều này cũng phù hợp với những nhận định ở mục dịch chuyển lao động khi Tây Nguyên là địa bàn nhập cư còn hai vùng kia là xuất cư.

Nhìn chung yếu tố lao động đang được tái cơ cấu phân bổ theo xu hướng tích cực và phù hợp quy luật chung. Tuy nhiên CDCC lao động vẫn chậm hơn quá trình thay đổi cơ cấu GDP, công nghiệp và xây dựng vẫn chưa dung nạp lao độngvà tồn tại những khác biệt cơ cấu lao động giữa các vùng.

B. Cơ cấu đầu tư

Tỷ trọng phân bổ vốn cho các ngành ở MT-TN cũng giống như xu hướng chung của Việt Nam. Tỷ lệ vốn cho nông - lâm - thủy sản chiếm tỷ trọng nhỏ nhất chỉ là 7,2% năm 2000 sau đó tăng lên hơn 12,2% năm 2009 và giảm xuống còn 6,6% năm 2014. Tỷ lệ vốn phân bổ cho CN-XD có xu hướng tăng và chiếm 54,3% năm 2014, trong khi tỷ trọng của dịch vụ có xu hướng giảm, năm 2014 chỉ còn gần 40%.

Tỷ lệ phân bổ vốn giữa các vùng của MT- TN cho thấy, tỷ lệ phân bổ cho vùng Bắc Trung Bộ tuy có giảm nhưng vẫn chiếm gần 49,2%. khu vực duyên hải Nam Trung Bộ được phân bổ khoảng 32-34% và Tây Nguyên nhận khoảng 18%. Mức thay đổi và góc chuyển dịch cũng rất nhỏ trong khoảng thời gian 14 năm qua.

Như vậy,những thay đổi của cơ cấu đầu tư đang cho thấy xu hướng phân bổ vốn đầu tư ở MT-TN cần có những điều chỉnh tái cơ cấu phân bổ hợp lý hơn nhằm phát huy tiềm năng kinh tế, gắn kết các yếu tố kinh tế khác thúc đẩy phát triển.

C. Cơ cấu đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng kinh tế

Bảng 1. Cơ cấu đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng của khu vực miền Trung – Tây Nguyên

 

 

% Tăng trưởng GDP

Trong đó của

Tỷ lệ  đóng góp vào 1% TT

 Lao động

Vốn

TFP

 Lao động

Vốn

TFP

Miền Trung - Tây Nguyên

10,5

2,0

6,0

2,5

18,8

57,1

24,1

Bắc Trung Bộ

9,6

1,8

6,2

1,6

18,7

64,4

17,0

Duyên hải Nam Trung Bộ

10,7

1,6

5,8

3,2

15,1

54,9

30,0

Tây Nguyên

12,1

3,3

5,6

3,2

27,0

46,6

26,4

Nguồn: Tính toán theo số liệu Niên giám Thống kế các tỉnh MT-TN

Trong các nhân tố đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng của MT-TN (bảng 1) vốn vẫn chiếm vai trò quan trọng nhất, lao động và TFP rất thấp. Tăng trưởng kinh tế ở đây chủ yếu dựa vào các nhân tố chiều rộng, chưa khai thác tiềm năng lao động và các nhân tố chiều sâu. Để củng cố những kết luận này hãy xem xét tình hình và hiệu quả đầu tư của MT-TN. Tỷ lệ đầu tư/GDP trung bình thời kỳ 2000-2014 của MT-TN là 51,4%, Bắc Trung Bộ là 44,6%, Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là 60,6% và Tây Nguyên là 42,6%. Hiệu quả đầu tư trung bình thời kỳ 2000-2014 của MT-TN-hệ số ICOR là 4,5, Bắc Trung Bộ là 4,3;Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là 5,2 và Tây Nguyên là 3,35. Việc tập trung đầu tư cho Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung khá cao để phát huy vai trò động lực nhưng hiệu quả đầu tư cũng là vấn đề.Ở đây cho thấy tồn tại nhất định về trình độ công nghệ của các vùng ở MT-TN.

2.2.3. Cấu thành tổng cầu

Bây giờ xem xét khía cạnh tổng cầu và tác động của nhân tố này tới tăng trưởng kinh tế MT-TN. Do số liệu thống kê của các tỉnh không phản ánh chỉ tiêu tiêu dùng của hộ gia đình và chính phủ nên trong nghiên cứu này sẽ thông qua tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ (tổng MLC HH-DV). Tỷ lệ tổng MLC HH-DV so với GDP của các tỉnh có xu hướng tăng dần trong thời kỳ 2000- 2014, nên xu hướng chung cũng tăng từ 54,5% năm 2000 lên 71,4% năm 2014,  nhưng vẫn thấp hơn mức chung của cả nước hiện nay. Ngoài ra có sự khác biệt không nhỏ giữa các vùng và trong nội bộ các vùng, khi tỷ lệ MLC HH-DV so với GDP thấp nhất trung bình là trên 40% và cao nhất 87%.Tỷ lệ lạm phát của các tỉnh khu vực này thường thấp hơn tỷ lệ lạm phát chung của cả nước. Điều này chứng tỏ mức tiêu dùng của MT-TN không cao. Cho dù xu hướng này tuy tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế của MT-TN nhưng do tỷ lệ tiêu dùng thấp khiến số nhân chi tiêu của MT-TN thấp hơn mức chung của cả nước, cộng với quy mô dân số phân bố trên diện tích 150 nghìn km2 tạo ra quy mô thị trường hạn chế, khá phân tán và khác biệt nên tác động của tổng cầu tới tăng trưởng kinh tế có những hạn chế nhất định và nhỏ hơn so với cả nước.

Nhìn chung MHTTKT của các vùng ở MT-TN có những khác biệt trong vận hành và thiếu sự cộng hưởng lẫn nhau đã dẫn tới hiệu quả sử dụng nguồn lực không cao, không phát huy được thể mạnh của các địa phương và vùng. Kết quả là sản lượng thấp hơn tiềm năng của vùng. Khiếm khuyết này đòi hỏi phải có sự bổ sung bởi một cơ chế bổ sung. Đó chính là cơ chế liên kết phát triển vùng ở MT-TN.

2.3. Liên kết vùng trong phát triển kinh tế ở MT-TN

2.3.1. Tiềm năng để liên kết vùng

Như mục trên đã đề cập tới tình hình tăng trưởng kinh tế của ba vùng lớn của MT-TN. Đó là Bắc Trung Bộ,duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ở đây hiện có sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển, cấu trúc kinh tế, cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh.

 Về tài nguyên,duyên hải miền Trung nằm dọc theo biển Đông, với khí hậu biển và nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế gắn liền với biển.  Trong khi 5 tỉnh Tây Nguyên trải dài dọc theo dãy Trường Sơn dọc theo phía tây các tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam và nằm trên vùng đất đỏ bazan nhiều tiềm năng về khoáng sản, rừng, thủy điện và đặc biệt phát triển cây công nghiệp dài ngày và du lịch sinh thái. Vùng BTB là khu vực có nhiều tài nguyên khoáng sản, tiềm năng thủy hải sản và du lịch.

Về dân số, trong gần 22 triệu dân của MT-TN, dân số của Tây Nguyên là khoảng 5,6 triệu người, DHNTB là 7,2 triệu người và BTB là khoảng gần 9,2 triệu dân. Mật độ dân số của Tây Nguyên là 101 người/km2, trong khi của miền Trung tới 204 người/km2.

Về kinh tế, hiện có những khác biệt đáng kể giữa các vùng như đã phân tích ở phần trên.Miền Trung gồm BTB và DHNTB.Trong đó nhất là DHNTB, nơi có vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có trình độ phát triển cao hơn. Năm 2014, GDP/người của BTB là 38,14 triệu đồng, DHNTB là 46,03 triệu đồng và của Tây Nguyên là 33,49 triệu đồng. Hạ tầng cơ sở ở miền Trung phát triển đồng bộ và hiện đại hơn so với Tây Nguyên. Ở Tây Nguyên hạ tầng giao thông chủ yếu là đường bộ, hạ tầng thương mại, giáo dục và y tế cũng kém hơnkhu vực miền Trung. Môi trường kinh doanh của khu vực DHNTB cũng tốt hơn. Cấu trúc kinh tế có nhiều điểm khác biệt. Các tỉnh DHNTB tập trung phát triển công nghiệp hóa dầu khí, chế tạo, công nghệ cao, công nghiệp dệt may, thương mại, dịch vụ và nông nghiệp. Riêng dịch vụ ở DHNTB bao gồm logictics, du lịch sinh thái biển, y tế, giáo dục, tài chính ngân hàng... Nền kinh tế BTB dựa vào công nghiệp luyện kim, hóa dầu, thương mại du lịch, dịch vụ du lịch, giáo dục y tế và nông nghiệp. Trong khi các tỉnh Tây Nguyên chủ yếu dựa vào sản xuất cây công nghiệp dài ngày, công nghiệp chế biến nông sản, khai thác khoáng sản, thương mại và dịch vụ.

Từ những khác biệt của mỗi bên có thể liên kết trong: Quy hoạch, bố trí sản xuất theo hướng phân công lao động sâu, chuyên môn hóa và tập trung sản xuất những lĩnh vực và ngành kinh tế cho từng vùng và từng địa phương; Huy động và thu hút đầu tư vào các vùng và địa phương theo định hướng ưu tiên đã được phân công; Đào tạo, sử dụng lao động; Phát triển và khai thác sử dụng cơ sở hạ tầng kinh tế nhất là giao thông, cảng biển, sân bay, thương mại và du lịch; Hỗ trợ tiếp nhận, áp dụng chuyển giao và phát triển công nghệ trong các doanh nghiệp và nền kinh tế; Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường.

2.3.2. Cơ chế liên kết vùng hiện nay

Hiện nay hoạt động liên kết vùng MT-TN được điều hành theo một số cơ chế sau:

Thứ nhất - cấp Chính phủ: Một loạt các văn bản pháp lý quan trọng về chính sách thu hút các nguồn vốn đầu tư, ưu đãi đầu tư đã được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu hội nhập như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và Luật Đấu thầu cùng các Nghị định hướng dẫn các luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác đã tạo ra cơ sở pháp lý cho liên kết vùng phát triển tốt hơn.

Cùng với đó, cơ chế điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm (theo Quyết định 20/2004/QĐ -TTg ngày 18.2.2004 của Thủ tướng chính phủ) và Quy chế phối hợp giữa Bộ ngành và địa phương với các vùng trọng điểm (theo Quyết định 159/2007/ QĐ -TTg ngày 10.20.2007). Theo đó, các lĩnh vực phối hợp liên kết được xác định gồm: sử dụng tài nguyên, xây dựng kết cấu hạ tầng; sử dụng lao động cho các khu công nghiệp khu kinh tế; đào tạo nguồn nhân lực nhất là chất lượng cao; ban hành cơ chế chính sách; phối hợp quảng bá và thu hút đầu tư nước ngoài...Các văn bản này cũng chỉ ra cách thức phối hợp và liên kết: phối hợp xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; phối hợp nội dung quy hoạch tỉnh trong vùng.

Thứ hai - cấp vùng: Những năm qua, sự nỗ lực của chính quyền 7 tỉnh DHNTB để liên kết phát triển. Ở đây đang thực hiện cơ chế điều phối liên kết phát triển. Việc liên kết phát triển thể hiện rõ qua cơ chế điều phối liên kết. Theo đó mọi quyết định lớn của vùng thực hiện theo nguyên tắc đồng thuận và thông qua diễn đàn thảo luận hay họp giữa lảnh đạo các tỉnh nhằm thực hiện 09 nội dung cam kết liên kết (Ban điều phối liên kết phát triển phát triển miền Trung 9.2012). Tiếp sau đó là một loạt các biên bản cam kết liên kết trong một số các hoạt động của vùng như Liên kết đào tạo nguồn nhân lực các tỉnh duyên hải miền Trung và du lịch.

Giữa các vùng của MT-TN thực chất chưa tồn tại cơ chế liên kết phát triển cho dù gần đây có một số hội thảo về chủ đề này nhưng chỉ tập trung vào một số lĩnh vực nhất định. Lĩnh vực liên kết phát triển du lịch, chẳng hạn Hội thảo về miền Trung - Tây Nguyên liên kết phát triển du lịch vào 2.2006 hay Hội thảo về “Liên kết phát triển du lịch vùng Bắc - Nam Trung Bộ” tháng 2.2016 ở Nghệ An....

Thứ ba -cấp vi mô: Ngoài ra hoạt động liên kết còn diễn ra giữa các doanh nghiệp của các địa phương với nhau. Hoạt động này là quá trình tất yếu nhưng mang tính tự phát theo yêu cầu của thị trường mà chưa được hỗ trợ bởi một cơ chế chung.

Những hạn chế trong liên kết phát triển

Tình hình này đã dẫn tới những tồn tại trong thực tiễn cho dù liên kết phát triển đang là nhu cầu. Đó là: Trên tổng thể hoạt động liên kết phát triển của MT-TN mới chỉ bắt đầu và chưa tạo ra lực hút liên kết; Hoạt động liên kết mới chỉ được diễn ra ở DHNTB và một số lĩnh vực; Chưa có một chủ thể đứng ra tổ chức và thực hiện liên kết MT-TN và do đó chưa thể có được cơ chế liên kết phát triển ở MT-TN; Thiếu sự phối hợp giữa các địa phương trong việc hình thành chính sách thu hút và phân bổ đầu tư; Thiếu phối hợp giữa thẩm quyền quy hoạch và đầu tư; Thiếu sự liên kết trong quy hoạch giữa các tỉnh, thành phố trong một vùng.Do đó,nhận thức được những điều này rất quan trọng để có thể hình thành một cơ chế liên kết để bổ sung cho cơ chế vận hành nền kinh tế MT-TN.

3. Định hướng và một số giải pháp liên kết phát triển ở MT-TN gắn với đổi mới MHTTKT

3.1. Định hướng

Việc thực hiện liên kết phát triển ở MT-TN gắn với đổi mới MHTTKT cần được thực hiện theo các định hướng:

Thứ nhất, liên kết phát triển nhằm tạo ra không gian kinh tế rộng lớn và đa dạng vừa tận dụng những tiềm năng, thế mạnh riêng của mỗi địa phương, vừa đảm bảo tăng trưởng cao và phát triển bền vững, tương thích với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ hai, liên kết phát triển phải thống nhất và bổ sung cho cơ chế vận hành tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, vùng ở MT-TN.

Thứ ba, cơ chế liên kết phải tiếp tục giúp các tỉnh và Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung duy trì tăng trưởng nhanh và thực sự làm động lực phát triển cho MT-TN, đồng thời hỗ trợ các vùng kém hơn đẩy nhanh sự tăng trưởng để giữ và giảm dần khoảng cách chênh lệch giữa các tỉnh và vùng.

Thứ tư, không chỉ liên kết phát triển ở từng vùng mà cần thực hiện liên kết phát triên với cả MT-TN.

Thứ năm, bảo đảm cho sự dịch chuyển tự do và hiệu quả của hàng hóa dịch vụ, vốn lao động và công nghệ giữa các địa phương và vùng trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh và môi trường kinh doanh hiệu quả.

3.2. Các giải pháp

Các giải pháp này bao gồm:

Thứ nhất, các vùng ở MT-TN cần phải nhận thức rõ ràng sự cần thiết phải liên kết vùng với nhau, chỉ có liên kết mới có thể phát triển. Đồng thời phải thay đổi nhận thức về vấn đề liên kết, tham gia liên kết là tự nguyện và vì lợi ích của chính mình.

Thứ hai, xây dựng cơ sở pháp lý cho liên kết vùng trên cơ sở bổ sung và hoàn thiện các luật đã có. Khi đó liên kết vùng mới thực sự được thừa nhận và có cơ sở để điều chỉnh các quan hệ trong liên kết. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong liên kết mới được xác định rõ ràng. Đồng thời Nhà nước cũng cần có những chính sách về liên kết vùng nhằm tạo điều kiện cho liên kết cũng như hiệu lực hóa cơ sở pháp lý. Đặc biệt là chính sách phân bổ đầu tư.

Thứ ba, tùy theo điều kiện của từng vùng ở MT-TN có thể xây dựng các mô hình thể chế quản trị vùng (hội đồng vùng) phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Đây là việc cần thiết vì sự đa dạng trong điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế, xã hội ở các vùng miền, nhu cầu liên kết vùng, điều kiện hình thành kinh tế vùng rất khác nhau. Thực tế ở Việt Nam và kinh nghiệmcủa thế giới cho thấy có thể nghiên cứu thiết lập Tổ chức quản trị vùng với một thể chế hoạt động có tính pháp lý cao, có bộ máy tổ chức rõ ràng, có nguồn tài chính độc lập, có các quyền quyết định quy hoạch và điều phối phát triển vùng cao hơn quyền lực của một tỉnh, thành phố trong vùng. Ngoài thể chế chính thức trên, sẽ hình thành các thể chế quản trị, điều phối thúc đẩy liên kết vùng trên cơ sở hình thành các hoạt động kinh tế liên vùng giữa các tác nhân kinh tế (thể chế phi nhà nước) như các hiệp hội ngành hàng, hiệp hội doanh nghiệp du lịch...

Thứ tư, hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác quy hoạch quản lý, quy hoạch ngành và phát triển vùng. Để thực hiện được điều này, cần nâng cao chất lượng công tác dự báo, thẩm định quy hoạch và quản lý quá trình thực hiện quy hoạch. Đặc biệt là nâng cao tính pháp lý của quy hoạch. 

Thứ năm, phân cấp hợp lý và minh bạch. Kinh tế vùng, liên kết vùng chỉ có thể thực hiện được khi có quá trình phân cấp hợp lý giữa Trung ương và địa phương, giữa Nhà nước và thị trường với từng vùng cụ thể. Có thể nghiên cứu để thực hiện phân cấp cho hội đồng vùng  quyết định tập thể  như: quyết định đầu tư; chính sách hỗ trợ, chương trình phát triển; tổ chức hệ thống dịch vụ công; phát triển hạ tầng...

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bùi Quang Bình.  “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986-2013: Thành tựu, hạn chế, định hướng và giải pháp đổi mới”. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế.Số 3(442) 3-/2015 trang 12-22. ISSN -0866 -7489.

2. Nguyễn Chiến Thắng.  “Thể chế liên kết vùng ở Việt Nam: Một số gợi ý từ kinh nghiệm quốc tế”.Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới.Số 5(205) 2013.

3. François Perroux (1903-1987), là nhà kinh tế học lớn của Pháp; xem chi tiết về giới thiệu lý thuyết kinh tế của ông qua tác phẩm THE “NEW” ECONOMIC THEORIES của Helena Marques; www.fep.up.pt.

4. Jacques Raoul Boudeville.  1966.Problem of regional Economic planning. Nhà xuất bản Edinburgh University Press - 1974.

5. Ban điều phối liên kết phát triển phát triển miền Trung.Biên bản cam kết "Liên kết phát triển 07 tỉnh duyên hải miền Trung". Năm 2012 http://duyenhaimientrung.vn/65-71-438/So-lieu-thong-ke-Dau-tu-Da-Nang.aspx

6. Arrow, K,J. 1962.The Economic Implications of Learning by Doing, Review of Economic Studies 29: 155-`173 Repinted in Stiglitz and Uzawa.

7. Bùi Quang Bình. “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phục hồi tăng trưởng kinh tế Việt Nam”. Tạp chí Phát triển Kinh tế. Số 233 tháng 3/2010.

8. Joseph E.Stiglitz, Shahid Yusuf.  2002.Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á. Hà Nội: Chính trị Quốc gia.

9. Mankiw, N, G. 2000. Macroeconomics, Second edition, Harvard Universiti, Worth Publishers

10. Mankiw, N.G, D. Romer và D. Weil.  1992. A Contribution to the Empirics of economic Growth.Quarterly Journal of Economics 107. 401 -437. 

11. Nguyễn Quang Thái.“Tái cấu trúc kinh tế bắt đầu từ đâu và theo lộ trình nào?”Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế. Số 5 (408) tháng 5/2012 .

12. Paul M. Romer, P. M.  1990.Endogenous technological Change.Journal of Political Economy 98. 71-102,

13. Paul Saumelson, W. N.  1989. Kinh tế học.Hà Nội: Viện Quan hệ Quốc tế.

14.  Vũ Tuấn Anh.“Một số vấn đề lý luận về cơ cấu nền kinh tế quốc dân”.Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế.Số 2/1982.

15. Zhao Guhao.  2006. “A study on China’s Economic Sustainable Growth” Http://www.ris.org.in/china_zhao_guhao.pdf

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
537 lượt xem - 08.08.2017 : 10:36p
1.136 lượt xem - 18.05.2017 : 16:21p
2.342 lượt xem - 27.04.2017 : 15:02p
1.019 lượt xem - 30.03.2017 : 14:18p
Tin đọc nhiều
47.654 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
23.294 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
22.184 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
21.102 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
18.204 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
15.890 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p