0:31 14/12/2011
Cỡ chữ

Vùng duyên hải miền Trung gồm 7 tỉnh, thành: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng đối với cả nước. Việc phát huy nội lực của vùng gắn với hội nhập và hợp tác quốc tế để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh vấn đề giáo dục - đào tạo gắn liền với liên doanh, liên kết, hợp tác quốc tế để tạo ra sức mạnh tổng hợp cho phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực huy động vốn đầu tư cho sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo của vùng.

1. Tổng quan về hệ thống giáo dục

Ảnh 1. Ngày khai trường của học sinh trường Nguyễn Du – Đà Nẵng

Nền giáo dục của Việt Nam nói chung và của 7 tỉnh, thành duyên hải miền Trung nói riêng đã đạt được những thành quả quan trọng về mở rộng quy mô, đa dạng hóa các hình thức giáo dục và nâng cấp cơ sở vật chất cho nhà trường. Trình độ dân trí được nâng cao, chất lượng giáo dục ở một số ngành, lĩnh vực có những chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống giáo dục đã đa dạng hóa cả về loại hình, phương thức và nguồn lực, từng bước hòa nhập với xu thế chung của giáo dục thế giới. Từ một hệ thống chỉ có các trường công lập và chủ yếu là loại hình chính quy đến nay đã có các trường ngoài công lập, các trường mở, phương thức liên kết đào tạo nước ngoài. 

1.1. Về giáo dục mẫu giáo

Với mục tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em trước 6 tuổi bằng những hình thức thích hợp, tạo cơ sở để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, thẩm mĩ. Nhiệm vụ trọng tâm là mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo, ưu tiên đầu tư phát triển mầm non vùng nông thôn, đặc biệt chú trọng trẻ 5 tuổi, trẻ em các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; phổ biến rộng rãi kiến thức và phương pháp nuôi dạy trẻ cho các gia đình; hạ thấp, tiến đến từng bước xoá bỏ tình trạng suy dinh dưỡng và kém phát triển ở trẻ em.

Toàn vùng hiện nay đã bước đầu khôi phục và phát triển giáo dục mầm non ở nhiều địa phương gặp khó khăn. Số xã “trắng” về cơ sở giáo dục mầm non giảm rõ rệt. Năm học 2010 - 2011, toàn vùng có 238.839 trẻ em (chiếm 7,9% cả nước) theo học ở 1.098 trường mầm non với 11.088 lớp học trên tổng số 15.905 giáo viên. Nhìn chung, chất lượng chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non có tiến bộ. Tuy nhiên, địa phương trong Vùng còn gặp nhiều khó khăn, đội ngũ giáo viên mầm non vẫn còn thiếu so với định mức, nhiều giáo viên chưa đạt chuẩn, phòng học và đồ dùng dạy học vẫn còn thiếu thốn.

Bảng 1: Quy mô về giáo dục mẫu giáo của 7 tỉnh, thành phố 

 

Số trường

Lớp

Giáo viên

Học sinh

Thừa Thiên Huế

193

1.862

2.961

44.929

Đà Nẵng

126

1.784

3.373

46.211

Quảng Nam

222

1.841

2.484

47.637

Quảng Ngãi

215

1.492

1.817

37.949

Bình Định

188

1.670

1.988

47

Phú Yên

128

1.112

1.254

25.153

Khánh Hòa

26

1.327

2.028

36.913

Tổng 7 tỉnh

1.098

11.088

15.905

238.839

Cả nước

12.678

115.100

157.300

3.000.000

% so với cả nước

8.6

9.6

10.1

7.9

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh, thành phố thuộc vùng duyên hải miền Trung


1.2. Về giáo dục phổ thông

Các tỉnh trong vùng chú trọng đến việc giáo dục phổ thông phải có sự liên kết chặt chẽ với giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội để tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh khi tham gia vào thị trường lao động. Năm học 2010 - 2011, toàn vùng có 1.263.540 học sinh theo học ở 2.600 trường, tổng số phòng học 48.952 và 82.115 giáo viên. Trong đó, Đà Nẵng là thành phố có số lượng trường ít nhất với 175 trường và Quảng Nam là tỉnh có số lượng trường nhiều nhất với 532 trường.

Bảng 2: Quy mô về giáo dục phổ thông của 7 tỉnh

 

Số trường

Lớp

Giáo viên

Học sinh

Thừa Thiên Huế

393

6.886

12.114

224.170

Đà Nẵng

175

4.029

7.412

149.541

Quảng Nam

532

9.117

15.329

280.845

Quảng Ngãi

441

7.355

12.287

228.824

Bình Định

439

8.925

13.799

302

Phú Yên

295

6.077

10.110

167.049

Khánh Hòa

325

6.563

11.064

212.809

Tổng 7 tỉnh

2.600

48.952

82.115

1.263.540

Cả nước

28.563

490.700

820.400

14.800.000

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh, thành phố thuộc vùng duyên hải miền Trung

Hiện nay, các tỉnh mở rộng xây dựng, đầu tư và phát triển thành một cơ sở giáo dục phổ thông có chất lượng cao, đạt chuẩn quốc gia. Thừa Thiên Huế có trường trung học phổ thông (THPT) chuyên Quốc Học, Đà Nẵng có trường chuyên Lê Quý Đôn, Quảng Nam có trường chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quảng Ngãi có trường THPT chuyên Lê Khiết, Phú Yên có trường chuyên Lương Văn Chánh. Việc mở rộng trường chuyên của các tỉnh nhằm mục đích tuyển chọn lọc học sinh giỏi để giảng dạy, qua đó phát hiện năng khiếu đặc biệt để bồi dưỡng thành nhân tài, giảng dạy ở các lớp tạo mặt bằng xuất phát để học sinh có đủ năng lực và phẩm chất tiếp tục học bậc cao hơn.

Ngoài ra, một số tỉnh đã xây dựng các trường quốc tế như: trường Quốc tế Singapore ở Đà Nẵng, trường Huế Star Group và trường Quốc tế Châu Á Thái Bình Dương (APC) - Diamond Bay tại Nha Trang là những trung tâm đào tạo tiên tiến, có cơ sở hạ tầng và khả năng tiếp cận thông tin liên lạc hiện đại, giúp học sinh có cơ hội hòa nhập vào một môi trường giáo dục luôn hướng đến sự hoàn thiện để trở thành một thành viên của cộng đồng tiến bộ.


1.3. Giáo dục đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp

1.3.1. Giáo dục đại học, cao đẳng

Đến nay, hầu hết các tỉnh đều có trường đại học, cao đẳng, bước đầu phát triển các trường dạy nghề thuộc một số ngành kinh tế mũi nhọn. Kiến thức, kỹ năng của học sinh ở một số trường được đầu tư, trang bị tốt. 7 tỉnh vùng duyên hải miền Trung có 56 trường đại học và cao đẳng, xếp thứ 3 sau vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ, chiếm 12,1% số trường so với cả nước. Số sinh viên cao đẳng, đại học chính quy trong vùng khoảng 337.114 người, chiếm 12% tổng số sinh viên chính quy trong cả nước. Số giảng viên của vùng là hơn 9.482 người, chiếm tỉ lệ khoảng 10% tổng số giảng viên trong cả nước.

Ảnh 2: Trường Đại học Huế


Bảng 3: Quy mô về giáo dục đại học, cao đẳng của 7 tỉnh,thành phố 

 

Số trường

Giảng viên

Sinh viên

Số sinh viên tốt nghiệp

Thừa Thiên Huế

13

2.294

119.375

26.376

Đà Nẵng

18

3.461

115.469

18.368

Quảng Nam

9

889

28.454

6.083

Quảng Ngãi

3

379

6.957

2.174

Bình Định

4

940

34.538

6.820

Phú Yên

3

940

34.538

3.490

Khánh Hòa

7

1.108

30,762

6.612

Tổng 7 tỉnh

57

9.482

344.074

69.923

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh, thành phố thuộc vùng duyên hải miền Trung


1.3.2. Giáo dục trung cấp chuyên nghiệp

Đảm bảo phần lớn yêu cầu nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật theo các cấp trình độ với chất lượng cao, phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng tỉnh và cả vùng. Phát triển nhanh, có hiệu quả hệ thống trường, trung tâm giáo dục nghề nghiệp để giải quyết tốt phân luồng giáo dục và phục vụ kịp thời nguồn nhân lực cho sự phát triển nhanh của kinh tế - xã hội. Đồng thời, phát triển các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp theo hướng chất lượng, hội nhập, từng bước đạt trình độ khu vực và quốc tế.

Trong năm học 2010 - 2011, toàn vùng có 21 trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN), trong đó, Đà Nẵng là thành phố có nhiều trường nhất: 8 trường, các tỉnh còn lại có số trường ngang nhau. Toàn Vùng có 900 giáo viên TCCN và 62.343 học sinh, số học sinh tốt nghiệp trong năm lên đến 23.785 học sinh, điều này chứng tỏ rằng, các trường trong toàn Vùng đã chú trọng triển khai việc đào tạo với nhu cầu xã hội, đào tạo theo hợp đồng, theo địa chỉ sử dụng trên cơ sở nắm bắt nhu cầu doanh nghiệp, mời doanh nghiệp tham gia quá trình đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp.

Bảng 4: Quy mô về giáo dục trung cấp chuyên nghiệp của 7 tỉnh, thành phố 

 

Số trường

Giáo viên

Học sinh

Số sinh viên

tốt nghiệp

Thừa Thiên Huế

2

117

7.085

3.064

Đà Nẵng

8

382

31.087

12.845

Quảng Nam

3

113

1.983

292

Quảng Ngãi

1

38

1.234

972

Bình Định

2

66

3107

1.502

Phú Yên

2

105

6.242

2.352

Khánh Hòa

3

79

11.605

2.758

Tổng 7 tỉnh

21

900

62.343

23.785

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh, thành phố thuộc vùng duyên hải miền Trung


1.4. Chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Các tỉnh duyên hải miền Trung có vị trí địa lý thuận lợi, hệ thống đường bộ, đường thủy, đường hàng không nối liền với tất cả các vùng, miền trong cả nước, tiếp giáp với các tỉnh Tây Nguyên giàu tiềm năng, là điểm cuối của đường xuyên Á với hành lang kinh tế Đông Tây nối thông Lào, Thái Lan, Myanmar. Phía đông có hệ thống cảng biển thuận lợi cho việc giao thương với các nước khu vực và thế giới. Xác định được tiềm năng, lợi thế đó, những năm qua, cùng với cả nước, các địa phương trong khu vực đã có nhiều cố gắng tạo điều kiện và cơ hội để hình thành và xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp nhằm thu hút đầu tư, khai thác tiềm năng lợi thế của khu vực, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Nền kinh tế khu vực duyên hải miền Trung đang có xu hướng tách dần khỏi nền công nghiệp truyền thống để phát triển theo hướng công nghệ mới và chất lượng cao với những khu công nghiệp (KCN) lớn như KCN lọc hóa dầu ở Dung Quất, KCN Chu Lai - Kỳ Hà, KCN Hòa Khánh - Liên Chiểu, và mới đây thành phố Đà Nẵng đã chính thức công bố và kêu gọi đầu tư vào KCN công nghệ cao. Do vậy, vấn đề phát triển nguồn nhân lực của Vùng phải phù hợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hội của khu vực. Bên cạnh đó, có những ngành công nghệ cao đòi hỏi phải nhắm đến mục tiêu phát triển bền vững, vì vậy các sản phẩm liên quan đến ứng dụng năng lượng tái tạo, công nghệ sinh học, vật liệu mới, dược phẩm... cần được đặt lên hàng ưu tiên phát triển.

Việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đòi hỏi phải có đội ngũ có khả năng tư duy năng động, luôn sáng tạo và phát triển sản phẩm mới. Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao bằng cách đẩy mạnh hợp tác, liên thông đào tạo giữa các cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu chuyên ngành trong vùng, nhất là đối với các ngành mà vùng đang có nhu cầu cao như du lịch, tài chính - ngân hàng, hóa dầu, cơ điện tử, công nghệ thông tin, y - dược - kỹ thuật y tế, xã hội - nhân văn, văn hóa - nghệ thuật... Để thực hiện đào tạo kết hợp với nghiên cứu khoa học ở những ngành nghề trên cần phải có đội ngũ giảng viên, nhà nghiên cứu có kinh nghiệm, bên cạnh đó là vấn đề cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm hiện đại để phục vụ trong việc giảng dạy, nghiên cứu. Do vậy, trong công tác giáo dục đặc biệt là giáo dục đại học cần thay đổi tư duy dạy chay, tập cho sinh viên có thói quen làm nghiên cứu khoa học ngay từ năm đầu tiên. Và để duyên hải miền Trung có thể nhanh chóng bắt nhịp với nền kinh tế tri thức đang ngày một phát triển mạnh mẽ, cần tập trung đầu tư, nâng cấp các trường đại học và các cơ sở đào tạo khác trong vùng nhằm hình thành nên một hệ thống đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ổn định, bền vững cho toàn Vùng nói riêng và cả nước nói chung.

Trong những năm qua, nền giáo dục ở các tỉnh duyên hải miền Trung đã có bước phát triển đáng kể cả về chất lượng lẫn quy mô đào tạo. Hầu hết các tỉnh, thành phố trong khu vực đều có trường đại học, cao đẳng và các trường đào tạo nghề. Sự phân tầng về chất lượng đào tạo trong khu vực đang ngày càng rõ nét. Những trường đại học lớn làm nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng cao ở bậc đại học và sau đại học. Các trường đại học mới thành lập do điều kiện cơ sở vật chất và con người còn hạn chế nên chủ yếu làm nhiệm vụ đào tạo nghề nghiệp cho số đông.

So với cả nước, ngành nghề đào tạo tại các trường đại học ở các tỉnh duyên hải miền Trung tuy đa dạng, gồm nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, xã hội, quản lý cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu cho địa phương trong khu vực. Khả năng đào tạo của các trường ở khu vực duyên hải miền Trung không những thỏa mãn nhu cầu nhân lực tại chỗ mà còn cung ứng lực lượng lao động cho những khu vực đang phát triển công nghiệp mạnh mẽ ở các tỉnh phía nam. Do vậy, nhu cầu phát triển mạng lưới các trường cao đẳng, đại học ở khu vực duyên hải miền Trung đến năm 2020 là vô cùng cần thiết. Trong những năm qua, chính phủ đã triển khai quy hoạch nguồn nhân lực để thực hiện chủ trương trên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đề ra. Hiện nay, khu vực vùng duyên hải miền Trung có 409.000 lao động có trình độ cao đẳng, đại học, dự báo, đến năm 2015 sẽ tăng lên 567.000 lao động và 863.000 lao động vào năm 2020. Như vậy, trung bình mỗi năm cả vùng cần đào tạo thêm 32 nghìn lao động trình độ cao đẳng, đại học giai đoạn 2011 - 2015 và 60.000 lao động/năm giai đoạn 2015 - 2020. Để đạt chỉ tiêu chung của cả nước là 400 sinh viên/vạn dân vào năm 2020, với đặc điểm địa lý và kinh tế xã hội của vùng, dự kiến quy mô bình quân 1 trường đại học trong vùng khoảng 7.000 sinh viên và 1 trường cao đẳng khoảng 4.000 sinh viên, thì đến năm 2020 số trường đại học, cao đẳng trong vùng sẽ là 68 trường (trong đó 27 trường đại học và 41 trường cao đẳng), tăng thêm 18 trường (trong đó 10 trường đại học và 8 trường cao đẳng) so với hiện nay.

Từ thực tế mạng lưới các trường cao đẳng, đại học hiện nay và nhu cầu phát triển mạng lưới các trường cao đẳng, đại học khu vực duyên hải miền Trung đến năm 2020 thì việc liên kết phát triển các trường đại học chất lượng cao là điều cần thiết, bởi khi các địa phương có sự phối hợp thống nhất với nhau về cơ cấu ngành nghề, định hướng phát triển sẽ tạo nên sức mạnh về đào tạo nhân lực chất lượng cao trong toàn hệ thống cao đẳng, đại học trong vùng. Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng ở khu vực duyên hải miền Trung không những đảm bảo nguồn lao động có trình độ cao cho vùng mà còn cung cấp nguồn lao động cho các vùng miền khác. Vì vậy, vấn đề đầu tư xây dựng mới và nâng cấp một số trường đại học có uy tín thành các trường đại học đạt tiêu chuẩn quốc tế là điều cần thiết.

Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của vùng duyên hải miền Trung là hoàn toàn đúng đắn phù hợp với chủ trương chính sách của Nhà nước, của ngành giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội. Do vậy, phải đẩy mạnh hoàn thiện cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu khoa học để thể hiện đúng vai trò đầu tàu dẫn dắt nền giáo dục phát triển toàn diện ở các trường đại học.

Nhìn chung, các trường đại học, cao đẳng ở các tỉnh trong vùng duyên hải miền Trung vẫn chưa có sự liên kết nên sẽ khó khăn trong vấn đề đào tạo nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, đối với các trường đại học, cao đẳng được thành lập từ nay đến năm 2020, các địa phương cần có sự thống nhất với nhau về cơ cấu ngành nghề, định hướng phát triển, vị trí xây dựng của từng trường để tạo nên một hệ thống đào tạo nhân lực chất lượng cao trong toàn hệ thống cao đẳng, đại học trong toàn vùng. Theo quy hoạch tổng thể mạng lưới các trường cao đẳng, đại học trong cả nước thì đến năm 2020, vùng duyên hải miền Trung cần thêm 10 trường đại học và 8 trường cao đẳng. Trên cơ sở đó, các địa phương trong vùng cần thống nhất với nhau để xây dựng một hệ thống các trường chất lượng cao được thành lập mới. Chẳng hạn như, Đại học Đà Nẵng cần thành lập trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông, đào tạo các chuyên ngành về ứng dụng công nghệ thông tin trong công nghệ phần mềm, công nghệ truyền thông… Phát triển một số trường đại học thành đại học đa ngành như Đại học Bình Định, Đại học Khánh Hòa.

Bên cạnh đó, các trường đại học cần coi trọng môi trường sáng tạo và khuyến khích phát triển nhân tài, bồi dưỡng và thu hút nhân tài trong nhiều lĩnh vực. Xây dựng một hệ thống chung trong toàn Vùng để kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục và đào tạo, xử lý việc thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực trên phạm vi cả nước, bảo đảm phát triển hài hòa và cân đối.

Việc liên kết giữa các trường đại học, cao đẳng trong hệ thống đào tạo vùng duyên hải miền Trung là điều kiện để tập trung nguồn lực, đảm bảo đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao, và có giá trị trong việc đẩy nhanh tiến độ phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương một cách bền vững.

Để xã hội hóa giáo dục - đào tạo một cách toàn diện, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế cả nước nói chung, của vùng duyên hải miền Trung nói riêng đã hội nhập toàn cầu đòi hỏi từ kiến thức của cá nhân đến sự vận hành của xã hội đều phải kết nối và cập nhật kịp thời với thế giới. Giáo dục phải mang những bài học thực tiễn cuộc sống vào giáo án để dạy sinh viên khi ra trường không khỏi bỡ ngỡ trước sự chênh lệch quá lớn giữa lý thuyết và thực hành. Để làm được điều này, trước hết các trường đại học, cao đẳng trong vùng phải so sánh với các nước phát triển từ bộ môn giảng dạy đến nội dung giáo án, thời gian học trình, phương pháp dạy và học để cải cách triệt để và đào tạo được đầu ra đáp ứng nhu cầu xã hội. Đây chính là nội dung cốt lõi của xã hội hóa giáo dục.

Trong vùng cần có sự đầu tư về tài chính và đặc biệt là quy hoạch đất đai dành riêng cho giáo dục để tránh tình trạng trường học mở ra nhưng không có diện tích để xây trường, đành cho sinh viên học tạm bợ ở những cơ sở chật hẹp khác nhau. Do vậy, vấn đề khuyến khích người dân đóng góp đất tư nhân để xây dựng trường học thì sẽ khác. Nếu người dân đóng góp đất đai cho Nhà nước thuê thì phải miễn giảm thuế cũng như đảm bảo quyền lợi cho họ, từ đó mới có thêm đất đai để xã hội hóa giáo dục.

Khu vực duyên hải miền Trung đang đứng trước những thời cơ lớn trong phát triển kinh tế. Việc đảm bảo đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là khâu đột phá để phát triển kinh tế trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
Tin đọc nhiều
51.209 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
24.624 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
23.145 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
22.611 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
19.224 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
16.670 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p