11:03 08/04/2013
Cỡ chữ

PGS. TS. Bùi Tất Thắng

& Các thành viên Nhóm Tư vấn hợp tác phát triển Vùng

 

Vùng duyên hải miền Trung (DHMT) gồm 9 tỉnh/thành phố trải dài từ Thừa Thiên Huế đến Bình Thuận với tổng diện tích đất tự nhiên chiếm gần 15% diện tích cả nước và dân số chiếm 11,4% dân số cả nước. Các tỉnh/thành trong Vùng có điều kiện tự nhiên tương đồng nhau với đường bờ biển dài, các vịnh nước sâu, nhiều cảng biển, hệ thống giao thông đường bộ, đường hàng không ngày càng được hoàn thiện. Các đô thị lớn trong Vùng đã được kết nối với hệ thống các khu kinh tế (KKT), khu công nghiệp (KCN), tạo tiền đề thuận lợi cho việc phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp, dịch vụ góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của toàn Vùng. Tuy nhiên, chính những điều kiện tương đồng về điều kiện phát triển lại đang đặt ra yêu cầu hình thành hệ thống các KKT, KCN có khả năng hỗ trợ, liên kết lẫn nhau, phát triển mang tính bổ trợ giữa các địa phương và toàn Vùng nhằm phát huy tối đa tiềm năng, sức mạnh của các KKT, KCN để tạo ra bước đột phá mạnh, lan tỏa rộng cho toàn Vùng. 

I. Thực trạng phát triển ngành công nghiệp các tỉnh DHMT

1.1. Quy mô và tốc động tăng trưởng

Trong những năm qua, ngành công nghiệp của các tỉnh DHMT đã có những bước tiến nhất định tuy quy mô ngành công nghiệp của toàn Vùng vẫn còn khá nhỏ bé so với các Vùng khác trong cả nước. Giá trị sản xuất công nghiệp (SXCN) của toàn Vùng năm 2011 đạt trên 254 nghìn tỷ đồng, chỉ chiếm khoảng 8% so với tổng giá trị SXCN cả nước. Tốc độ tăng trưởng giá trị SXCN của toàn Vùng giai đoạn 2007 - 2011 là 19,6%, cao hơn so với tốc độ tăng GTSX công nghiệp của cả nước cùng kỳ là 12,4%. Các địa phương có tốc độ tăng trưởng công nghiệp nhanh nhất trong giai đoạn vừa qua là Quảng Nam, Quảng Ngãi, trong khi một số địa phương khác tốc độ tăng trưởng chậm hơn. Các ngành sản xuất công nghiệp chủ lực tạo ra giá trị lớn, số lượng các loại sản phẩm có quy mô cho toàn Vùng hiện vẫn chưa nhiều, chủ yếu vẫn là chế biến thủy sản, lắp ráp ô tô, hóa dầu…

1.2. Tình hình đầu tư

Tính đến hết năm 2011, tổng vốn đầu tư phát triển theo giá hiện hành toàn Vùng đạt hơn 95 nghìn tỷ đồng, chỉ chiếm 10,8% tổng vốn đầu tư của cả nước. Riêng đối với ngành công nghiệp, tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện so với tổng vốn đầu tư phát triển của Vùng là 24,2%, trong khi đó tỷ lệ này của cả nước là 35,6%. Ngành công nghiệp chế biến luôn chiếm tỷ trọng vốn đầu tư cao nhất, chiếm 64,4% tổng số vốn đầu tư vào ngành công nghiệp năm 2011, kế đến là ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước, khí đốt (32,2%) và ngành công nghiệp khai thác mỏ, chiếm tỷ trọng thấp nhất (3,4%).

Hình 1: Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện trong ngành công nghiệp của vùng duyên hải miền Trung

 

Nguồn: Niên giám thống kế các tỉnh, thành phố DHMT

Vùng duyên hải miền Trung được xem là khu vực năng động và tiềm năng nhưng hiện vẫn chưa thu hút được nhiều sự quan tâm và đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài. Tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lũy kế đến năm 2012 của Vùng là 734 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký là 24,9 tỷ USD, chỉ chiếm 5% về số dự án và 12% về vốn đầu tư đăng ký của cả nước. Trong số đó, Đà Nẵng là địa phương có số dự án FDI nhiều nhất với 239 dự án có mức tổng vốn đầu tư đăng ký là 3,63 tỷ USD và Phú Yên là địa phương có mức tổng vốn đầu tư đăng ký nhiều nhất là 6,53 tỷ USD với 57 dự án.

II. Thực trạng thu hút và triển khai các dự án đầu tư ti các KKT, KCN vùng DHMT

2.1. Thu hút đầu tư và kết quả sản xuất kinh doanh của các KCN vùng duyên hải miền Trung

Tính đến hết năm 2011, toàn Vùng có 51 KCN, chiếm khoảng 19% tổng số KCN cả nước với 178 dự án đầu tư nước ngoài và 808 dự án đầu tư trong nước. Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện/vốn đăng ký của Vùng cao hơn so với mức trung bình chung của cả nước với tỷ lệ là 72% đối với các dự án nước ngoài và 54,9% đối với các dự án trong nước, tỷ lệ này của cả nước tương ứng là 38,7% và 48,1%. Tổng diện tích đất tự nhiên của các KCN là 18.892 ha. Tuy vậy, chỉ có 30 KCN trong Vùng đã đi vào hoạt động trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê tại các khu này là khoảng 4.796,9 ha. Tỷ lệ lấp đầy các KCN trong Vùng trung bình khoảng 50%, cao hơn bình quân cả nước (47%), trong đó địa phương có tỷ lệ lấp đầy cao nhất là Đà Nẵng (85,7%), tiếp đến là Phú Yên (83,8%) và địa phương có tỷ lệ lấp đầy thấp nhất là Ninh Thuận (5,6%).

Tỉnh Thừa Thiên Huế: Hiện có 7 KCN với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 2.950 ha, trong đó có 2 KCN đã đi vào vận hành với tỷ lệ lấp đầy khoảng 62,2%. Đến nay, các KCN tỉnh Thừa Thiên Huế đã thu hút được 76 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 9.000 tỷ đồng; trong đó có 19 dự án FDI với số vốn đăng ký gần 200 triệu USD. Năm 2011, GTSX công nghiệp của các doanh nghiệp trong các KCN của tỉnh đạt gần 3.000 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước (NSNN) đạt 638 tỷ đồng; giá trị kim ngạch xuất khẩu (KNXK) đạt gần 230 triệu USD, tạo công ăn việc làm cho 12.800 lao động.

Thành phố Đà Nẵng: Hiện có 6 KCN tập trung đã đi vào vận hành, tổng diện tích các KCN là 1.141,82 ha. Các KCN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã thu hút được 272 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đạt 11.946,7 tỷ đồng và 75 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) với số vốn đầu tư là 689,4 triệu USD, tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho thuê của các KCN là 85,77%. Năm 2011, giá trị SXCN của các KCN đạt 13.352 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho 63.047 lao động, giá trị KNXK đạt 342,57 triệu USD, nộp NSNN 428,03 tỷ đồng.

Tỉnh Quảng Nam: Hiện nay tỉnh Quảng Nam có 6 KCN (trong 9 KCN đã quy hoạch) đã đi vào hoạt động với tổng diện tích quy hoạch là 2.177,5 ha; trong đó 3 KCN do Ban Quản lý KKT Chu Lai quản lý (KCN Tam Hiệp diện tích 718,5 ha, KCN Bắc Chu Lai diện tích 357 ha và KCN Cơ khí ô tô Chu Lai - Trường Hải diện tích 243 ha). Năm 2011, các doanh nghiệp trong các KCN có giá trị SXCN 7.073 tỷ đồng, giá trị KNXK là 208 triệu USD và giải quyết việc làm 32.880 lao động.

Tỉnh Quảng Ngãi: Hiện có 3 KCN với tổng diện tích là 405,83 ha, trong đó có 2 KCN đã đi vào vận hành là: KCN Tịnh Phong (141,72 ha) và KCN Quảng Phú (120,41 ha) với tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho thuê là 60,93%, thu hút được 78 dự án đầu tư trong nước với số vốn đầu tư là 4.379,5 tỷ đồng và 4 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) với số vốn là 28,4 triệu USD. Năm 2011, giá trị SXCN của các KCN đạt 2.175 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho 8.054 lao động, giá trị KNXK đạt 11 triệu USD, nộp NSNN 573 tỷ đồng.

Tỉnh Bình Định: Hiện có 8 KCN với tổng diện tích là 3.270 ha, trong đó có 3 KCN đã đi vào vận hành với tổng diện tích là 727 ha. Tính đến hết năm 2011, các KCN của tỉnh đã thu hút được 191 dự án đầu tư, trong đó 184 dự án đầu tư trong nước với số vốn là 4.950,8 tỷ đồng và 7 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) với số vốn là 47,71 triệu USD. Năm 2011, giá trị SXCN của KCN đạt 2.867,3 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho 17.070 lao động, giá trị KNXK đạt 159,48 triệu USD, nộp NSNN 299,78 tỷ đồng.

Tỉnh Phú Yên: Hiện có 4 KCN với tổng diện tích là 381,75 ha. Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho thuê của 4 KCN là 85,98%, thu hút được 75 dự án đầu tư, trong đó, 64 dự án đầu tư trong nước với số vốn đầu tư là 2.041 tỷ đồng và 11 dự án FDI với số vốn là 33,07 triệu USD. Năm 2011, giá trị SXCN các KCN là 3.815,6 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho 6.131 lao động, giá trị KNXK đạt 123 triệu USD, nộp NSNN 47,5 tỷ đồng.

Tỉnh Khánh Hòa: Hiện có 5 KCN với tổng diện tích là 880 ha, trong đó chỉ có KCN Suối Dầu đã đi vào vận hành. Tính đến hết năm 2011, KCN Suối Dầu đã thu hút được 55 dự án đầu tư, trong đó có 34 dự án trong nước với số vốn là 4.223 tỷ đồng và 21 dự án nước ngoài với 105,08 triệu USD, tỷ lệ lấp đầy của KCN Suối Dầu đạt 78,72%. Năm 2011, giá trị SXCN của các KCN đạt 3.625,8 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho 10.000 lao động, giá trị KNXK đạt 163,63 triệu USD, nộp NSNN là 130,63 tỷ đồng.

Tỉnh Ninh Thuận: Hiện có 2 KCN với tổng diện tích là 772,2 ha, trong đó có 1 KCN đã đi vào vận hành là KCN Phước Nam với diện tích đất công nghiệp cho thuê là 571 ha, tuy nhiên tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho thuê còn khá thấp (chỉ chiếm khoảng 5,6%), thu hút được 4 dự án đầu tư trong nước với số vốn đầu tư là 2.123 tỷ đồng và 1 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký là 100 triệu USD. Năm 2011, giá trị SXCN của các KCN đạt 1.507 tỷ đồng, giá trị KNXK đạt 62 triệu USD, nộp NSNN 51,89 tỷ đồng.

Tỉnh Bình Thuận: Hiện có 8 KCN được quy hoạch với tổng diện tích là 4.243,16 ha, trong đó đã có 4 KCN đã đi vào vận hành với tổng diện tích đất công nghiệp cho thuê là 687,9 ha. Tính đến hết năm 2011, các KCN của tỉnh đã thu hút được 38 dự án đầu tư, trong đó 29 dự án đầu tư trong nước với số vốn là 1.705,9 tỷ đồng và 9 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) với số vốn là 60,8 triệu USD. Năm 2011, giá trị SXCN của KCN đạt 3.250 tỷ đồng, giá trị KNXK đạt 58 triệu USD, nộp NSNN 55 tỷ đồng.

2.2. Thu hút đầu tư và kết quả sản xuất kinh doanh của các KKT1

Sự phát triển các KKT trong Vùng là nhân tố có tác động mạnh đến sự phát triển ngành công nghiệp của toàn Vùng. Vùng duyên hải miền Trung là nơi tập trung 6/15 KKT ven biển đã được Chính phủ phê duyệt, với tổng diện tích hơn 123.500 ha, gồm KKT Chân Mây - Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), KKT mở Chu Lai (Quảng Nam), KKT Dung Quất (Quảng Ngãi), KKT Nhơn Hội (Bình Định), KKT Nam Phú Yên (Phú Yên) và KKT Vân Phong (Khánh Hòa). Hầu hết các KKT này đều đã hoàn thành cơ bản phần đầu tư cơ sở hạ tầng và đang trong quá trình hoạt động (ngoại trừ KKT Nam Phú Yên). Năm 2011, tổng giá trị sản xuất tại các KKT của Vùng đạt khoảng 147.559 tỷ đồng, chiếm 85,4% tổng giá trị sản xuất tại 15 KKT cả nước. Theo đó, giá trị đóng góp vào ngân sách nhà nước của các KKT trong Vùng đạt 20.363 tỷ đồng và giá trị xuất khẩu đạt gần 1 tỷ USD, cụ thể:

(1) KKT Chân Mây - Lăng Cô: KKT Chân Mây - Lăng Cô đã thu hút được 34 dự án đầu tư, trong đó có 10 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 1.310 triệu USD và diện tích đăng ký thuê đất là 570 ha; 24 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 15.495 tỷ đồng, diện tích đăng ký thuê đất là 1.560 ha. Hiện tại, đã có 12 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh và 13 dự án đang trong quá trình xây dựng. Tổng vốn thực hiện của các dự án đạt 5.740 tỷ đồng, trong đó các dự án trong nước là 992 tỷ đồng và nước ngoài là 240 triệu USD, diện tích đất sử dụng là 250 ha. Năm 2011, tổng GTSX của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn KKT Chân Mây - Lăng Cô đạt 3.897 tỷ đồng (doanh nghiệp nước ngoài đạt 1.860 tỷ đồng), tổng GTXK của các doanh nghiệp trên địa bàn đạt 86 triệu USD (khu vực đầu tư nước ngoài đạt 74 triệu USD), đóng góp vào NSNN 246 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp nước ngoài là 61,5 tỷ đồng. GTSX công nghiệp đạt 1.900 tỷ đồng chiếm 15,66% so với GTSX công nghiệp toàn tỉnh. Một số nhà đầu tư có thương hiệu lớn đã đầu tư vào KKT như Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Banyan Tree của Singapore… Một số dự án quan trọng đang triển khai là: Dự án mở rộng kho dầu và xây dựng cảng dầu, Dự án Khu du lịch Laguna Lăng Cô, Dự án xây dựng hạ tầng KCN và Khu phi thuế quan Sài Gòn - Chân mây…

(2) KKT mở Chu Lai: Trên địa bàn KKT mở Chu Lai có tổng cộng 68 dự án được cấp phép đầu tư với tổng số vốn đăng ký hơn 1,7 tỷ USD (18 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn gần 200 triệu USD), trong đó có 48 dự án đang hoạt động. Tổng số vốn thực hiện đầu tư hơn 700 triệu USD. Năm 2011 giá trị SXCN tại KKT mở Chu Lai đạt 1.851 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 59 triệu USD, nộp ngân sách nhà nước 4.200 tỷ đồng. Một số dự án quy mô lớn đã đầu tư như Tổ hợp KCN cơ khí ô tô Chu Lai Trường Hải, Nhà máy kính nổi Chu Lai, Nhà máy sản xuất soda Chu Lai, Khu Du lịch sinh thái Chu Lai, Khu Du lịch sinh thái Cát Vàng Chu Lai… Riêng lĩnh vực sản xuất và lắp ráp ô tô góp phần vào việc phát triển ngành công nghiệp cơ khí ô tô Việt Nam, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Hiện nay, Công ty Ô tô Trường Hải Chu Lai là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất sản xuất và lắp ráp đủ cả 3 dòng xe tải, xe khách và xe du lịch với tỷ lệ nội địa hóa cao nhất.

(3) KKT Dung Quất: KKT Dung Quất hiện đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 112 dự án với tổng số vốn đăng ký là 8 tỷ USD, trong đó có 99 dự án trong nước với tổng số vốn đăng ký là 75.080,61 tỷ đồng, 13 dự án nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 3.745,15 triệu USD. Tổng vốn thực hiện đầu tư khoảng 4,8 tỷ USD (đạt 60%). Tổng diện tích thuê đất để thực hiện dự án là 2.300,4 ha. KKT đã có 67 dự án đã đi vào hoạt động, trong đó có 39 dự án công nghiệp tạo giá trị sản lượng công nghiệp và giá trị xuất khẩu lớn, điển hình là các dự án lọc dầu thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, các nhà máy hóa dầu, hóa chất… Nhà máy công nghiệp tàu thủy Dung Quất đóng tàu 104.000 - 105.000 tấn (đang bước đầu hình thành Khu liên hợp tàu thủy Dung Quất); Nhà máy công nghiệp nặng Doosan Việt Nam sản xuất các sản phẩm công nghiệp nặng xuất khẩu… Đang triển khai xây dựng nhà máy thép Guang Lian công suất 7 triệu tấn/năm, vốn đầu tư 4,5 tỷ USD; Nhà máy công nghiệp nặng Kumwoo, Nhà máy KIC (Hàn Quốc), bước đầu hình thành cụm công nghiệp cơ khí và sản xuất thép tại KCN phía Đông gắn với cảng nước biển sâu Dung Quất I. Năm 2011, GTSX công nghiệp đạt 127.100 tỷ đồng và giá trị xuất khẩu đạt 350 triệu USD, hàng hóa cảng Dung Quất đạt 5,3 triệu tấn; thu NSNN trên địa bàn KKT Dung Quất đạt 15.532 tỷ đồng.

(4) KKT Nhơn Hội: KKT Nhơn Hội hiện có 35 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với vốn đăng ký 33.394 tỷ đồng, trong đó có 8 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 516 triệu USD, 27 dự án trong nước với tổng số vốn đăng ký 24.265 tỷ đồng. Diện tích đăng ký thuê đất là 3.896 ha (chiếm khoảng 56% diện tích đất quy hoạch xây dựng của KKT). Tổng vốn thực hiện các dự án đến năm 2011 khoảng 2.097 tỷ đồng, có 08 dự án đi vào hoạt động theo từng phần dự án. Trong KKT đã có 12 dự án thuê lại đất với diện tích 58 ha, trong đó có 05 dự án đã đi vào hoạt động. Ngoài ra, UBND tỉnh đã chấp thuận chủ trương cho một số dự án có quy mô lớn đầu tư vào KKT như: Dự án nhà máy lọc dầu với quy mô 12 triệu tấn/năm, vốn đầu tư 7.800 triệu USD do Tập đoàn Dầu khí Thái Lan PTT hợp tác với công ty Khang Thông đăng ký đầu tư; Dự án chế biến Pigment titan với vốn đầu tư 200 triệu USD do công ty cổ phần Hóa chất Hồ Nam (Trung Quốc) đầu tư; Dự án Khu dân cư cao cấp và dịch vụ Tân Thanh… Tuy vậy, trong thời gian qua KKT Nhơn Hội chủ yếu tập trung vào khai thác hạ tầng KKT nên giá trị SXCN, mức đóng góp vào ngân sách nhà nước chưa cao và chưa có giá trị xuất khẩu. Năm 2011, GTSX đạt 118,82 tỷ đồng, nộp NSNN 32,634 tỷ đồng.

(5) KKT Nam Phú Yên: KKT Nam Phú Yên hiện đã thu hút được 27 dự án đăng ký đầu tư, trong đó có 18 dự án trong nước với tổng số vốn đăng ký đầu tư là 11.147,19 tỷ đồng và có 09 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đầu tư đăng ký đạt 1.727,645 triệu USD. Số dự án đi vào thực hiện gồm có 13 dự án trong nước với tổng số vốn thực hiện đạt 6,492 triệu USD. Diện tích đất thuê đăng ký là 2.421,99 ha (trong đó, trong nước là 2.200,66 ha và nước ngoài là 221,33 ha). Diện tích đất sử dụng thực tế khoảng 56,52 ha (các dự án trong nước sử dụng 20,19 ha, nước ngoài là 36,33 ha). Tính đến năm 2011, GTSX đạt 2.209 tỷ đồng, trong đó khu vực nước ngoài đạt khoảng 80,8 tỷ đồng, khu vực trong nước đạt khoảng 2.182,2 tỷ đồng. GTXK đạt 100 triệu USD, trong đó doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu 2 triệu USD

(6) KKT Vân Phong: Đến nay, KKT Vân Phong đã có 108 dự án đăng ký đầu tư với tổng số vốn đăng ký khoảng 14,1 tỷ USD và diện tích đăng ký thuê đất khoảng 6.784 ha. Số dự án thực hiện là 71 dự án với vốn đầu tư thực hiện 568,66 triệu USD, diện tích đất thuê là 1.097,25 ha, trong đó có 20 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với vốn thực hiện 516,68 triệu USD, diện tích đất thuê 189 ha; 51 dự án đầu tư trong nước với vốn thực hiện 1.039,96 tỷ đồng, diện tích thuê đất là 1.718,25 ha. KKT Vân Phong đã thu hút được các tập đoàn kinh tế lớn như: Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam; Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam; Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam, Tập đoàn Sumitomo - Nhật Bản… Hiện nay, một số dự án lớn đã đi vào hoạt động như: Nhà máy tàu biển Huyndai - Vinashin; Trạm phân phối xi măng Ninh Thủy - Nhật Bản, Kho xăng dầu ngoại quan… Năm 2011, KKT Vân Phong nộp NSNN 436,2 tỷ đồng, trong đó khu vực nước ngoài nộp 214,5 tỷ đồng. GTXK đạt 498,9 tỷ USD, trong đó khu vực nước ngoài đạt 436,2 triệu USD. Ngoài ra, hoạt động trung chuyển dầu mỏ tại khu vực vịnh Vân Phong thuộc địa bàn KKT đã bổ sung nguồn thu cho NSNN bình quân 2.000 tỷ đồng

Ngoài ra, trong Vùng còn có 1 khu công nghệ cao tại thành phố Đà Nẵng, với diện tích 1.010 ha, có chức năng chính là nghiên cứu, ươm tạo, phát triển, chuyển giao, ứng dụng công nghệ; đào tạo nhân lực; ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghệ cao; đẩy mạnh ứng dụng và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư mạo hiểm… cũng đã và đang triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng.

2.3. Tình hình thu hút và sử dụng lao động

Sự phát triển của các KCN, KKT đã góp phần giải quyết việc làm cho một lượng đáng kể lực lượng lao động tại các địa phương. Năm 2011, tổng lực lượng lao động làm việc tại các KCN, KKT là 183.294 người, trong đó lực lượng lao động trong các KCN chiếm 75%. Tại 6 KKT của Vùng cũng đã thu hút được trên 50% tổng lao động hiện đang làm việc tại các KKT trong cả nước và khoảng 9% tổng số lao động của Vùng. KKT Chu Lai và KKT Dung Quất là hai KKT có số lượng lao động nhiều nhất. Khu vực đầu tư nước ngoài tại các KKT chỉ có khoảng 9.391 lao động, chiếm 21% tổng số lao động hiện đang làm việc tại 6 KKT của Vùng. Ngoài lao động hiện đang làm việc thường xuyên tại các dự án đã đi vào hoạt động, các dự án đang triển khai trên địa bàn các KCN, KKT đang thu hút hàng nghìn lao động làm việc tại các công trường xây dựng. Phát triển ngành công nghiệp, đặc biệt thu hút các dự án đầu tư vào các KCN, KKT đã tạo ra nhiều việc làm cho Vùng nhưng con số này vẫn còn rất khiếm tốn so với tổng số việc làm mà các KCN, KKT trong nước tạo ra. Trong thời gian tới, khả năng thu hút và sử dụng lao động lại các KCN, KKT ngày càng lớn khi Vùng có nhiều dự án đầu tư đi vào hoạt động.

III. Nhận diện một số tiềm năng và thế mạnh thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp vùng DHMT

3.1. Tiềm năng và thế mạnh của Vùng

- Vị trí địa lý thuận lợi: Vùng DHMT nằm ở vị trí cửa ngõ của trục Hành lang kinh tế Đông Tây, kết nối các địa phương trong Vùng với các tỉnh Tây Nguyên và giao lưu kinh tế với 4 nước tiểu vùng sông Mêkông (Myanmar, Thái Lan, Lào và Campuchia). Đây là một lợi thế quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho Vùng mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên, cả nước và quốc tế.

- Cơ sở hạ tầng được cải thiện nhiều hơn trước: Toàn Vùng có 06 sân bay (trong đó có 04 cảng hàng không quốc tế), 14 cảng biển, 06 khu kinh tế ven biển (cả nước có 15 khu kinh tế ven biển), 01 khu công nghệ cao (cả nước có 3 khu công nghệ cao), Hệ thống tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ và đường sắt Bắc - Nam chạy qua, phân bố đều khắp ở các địa phương, nối liền các đô thị, các khu kinh tế, khu công nghiệp trong Vùng và nối Vùng với Tây Nguyên.

Hệ thống các KKT, KCN lớn trong toàn Vùng với cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện, đáp ứng được hầu hết những yêu cầu thiết yếu của các nhà đầu tư như mạng lưới giao thông trục chính, hệ thống cấp điện, hệ thống cấp nước, hệ thống xử lý nước thải, rác thải, và hệ thống thông tin liên lạc.... đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của KKT, KCN.

Lực lượng lao động dồi dào và việc đào tạo nghề được chú trọng hơn: Toàn Vùng có khoảng 5.647,3 nghìn lao động, chiếm 11% lực lượng lao động của cả nước và 56,4% dân số toàn Vùng. Tỷ lệ lao động trung bình đang làm việc trên 15 tuổi so với tổng dân số của Vùng là 54,89%, thấp hơn so với tỷ lệ trung bình chung của cả nước là 57,3%. Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo tăng từ 14,3% năm 2008 lên 15,4% năm 2011. Ngoài ra, toàn Vùng hiện có 30 trường đại học, 39 trường cao đẳng, 22 trường trung cấp chuyên nghiệp và 244 cơ sở đào tạo nghề ở các cấp đào tạo (cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề) được phân bố rộng khắp tại các địa phương trong Vùng.

- Môi trường đầu tư thông thoáng hơn: Chính quyền địa phương các tỉnh DHMT luôn cố gắng tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, mang đến sự thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư từ những thủ tục hành chính ban đầu cho đến việc đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án. Hầu hết các địa phương trong Vùng đều triển khai mô hình “một cửa liên thông” tại các Sở Kế hoạch và Đầu tư hay Trung tâm Xúc tiến đầu tư. Đặc biệt, một vài tỉnh trong Vùng có những mô hình hỗ trợ cho doanh nghiệp tương đối thành công với nhiều hình thức hỗ trợ đa dạng cho các nhà đầu tư khi quyết định lựa chọn đầu tư vào địa phương như mô hình Văn phòng Phát triển Kinh tế (EDO) của tỉnh Ninh Thuận, Ban Hỗ trợ doanh nghiệp và Xúc tiến đầu tư tỉnh Quảng Nam.

- Cơ chế, chính sách linh hoạt hơn: Bên cạnh những cơ chế chính sách nhằm khuyến khích, thúc đẩy đầu tư phát triển ngành công nghiệp, công nghiệp phụ trợ trên phạm vi cả nước đã được Chính phủ ban hành, mỗi địa phương trong Vùng đã có những cơ chế chính sách ưu tiên, hỗ trợ nhằm khuyến khích thúc đẩy hoạt động đầu tư như tăng thêm mức ưu đãi thuế, phí thuê đất ngoài mức ưu đãi từ chính phủ, kéo dài thời gian ưu đãi, hỗ trợ chi phí đào tạo nghề, hỗ trợ chi phí xúc tiến đầu tư, hỗ trợ quản lý thực thi các thủ tục hành chính, tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư tham quan, nghiên cứu và triển khai các dự án trong khu công nghiệp.

3.2. Những mặt còn hạn chế

- Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp của các địa phương chưa gắn liền với quy hoạch phát triển KKT, KCN và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Vùng và lãnh thổ;

- Công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư cho người dân còn nhiều khó khăn và bất cập. Điển hình là sự chênh lệch về chi phí giải phóng mặt bằng giữa trung ương, địa phương và giữa các tỉnh/thành trong Vùng với nhau;

- Tình hình giải ngân các dự án công nghiệp tại KKT, KCN còn chậm. Một phần là do nguyên nhân chủ quan của các địa phương nhưng phần lớn là đến từ các nhà đầu tư. Hầu hết các địa phương trong Vùng đều không đánh giá được năng lực của các nhà đầu tư vì vậy gây ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ triển khai các dự án;

- Trong những năm gần đây, các KKT, KCN trong Vùng đã phát triển rất nhanh về số lượng, đồng nghĩa với việc các địa phương trong Vùng đều muốn phát triển nhanh ngành công nghiệp. Vì vậy, việc thu hút đầu tư vào các KKT, KCN diễn ra với nhiều cách khác nhau mà chưa tính đến việc phát triển cơ cấu ngành, cơ cấu công nghệ để có được sự phát triển mang tính bổ trợ giữa các địa phương trong Vùng. Do vậy dẫn đến nhiều bất cập trong việc đầu tư phát triển như việc phát triển hạ tầng hay bảo vệ môi trường quanh KCN.

- Khả năng thu hút đầu tư vào một số KCN trong Vùng còn khá thấp, điển hình như các KCN tại Ninh Thuận, Bình Thuận có số lượng các dự án đầu tư vào thấp với số vốn đầu tư nhỏ. Nguyên nhân là sự khó khăn về vị trí địa lý so với các địa phương khác và hình thành quá nhiều KCN làm giảm sức hấp dẫn với các nhà đầu tư.

- Thiếu sự liên kết, hỗ trợ trong việc phát triển các KCN, KKT cũng như kêu gọi đầu tư vào toàn vùng DHMT. Hầu hết các địa phương hiện nay đều tự kêu gọi, xúc tiến đầu tư, do vậy thường có sự trùng lắp trong các ngành nghề kêu gọi đầu tư giữa các KKT, KCN trong Vùng. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để khai thác thế mạnh cho phát triển loại hình công nghiệp nào của từng địa phương trong Vùng.

IV. Định hướng giải pháp phát triển và liên kết phát triển ngành công nghiệp vùng DHMT

4.1. Nhóm giải pháp về quy hoạch

Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Vùng, trong đó có quy hoạch phát triển các KKT, KCN trong Vùng cần có tầm nhìn tổng thể, gắn với chiến lược phát triển ngành công nghiệp cả nước và sự nhất quán trong điều tiết của Chính phủ.

Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Vùng cần đặt lợi ích địa phương trong lợi ích tổng thể của cả nước và của Vùng; phát huy lợi thế về vị trí địa lý của Vùng nhằm hình thành hệ thống các KKT, KCN có khả năng hỗ trợ, liên kết lẫn nhau để phát huy tối đa tiềm năng, sức mạnh của các KKT, KCN từng địa phương, tạo bước đột phá mạnh, lan tỏa rộng cho toàn Vùng.

Định hướng cơ cấu ngành công nghiệp cho các địa phương Vùng cần tận dụng các lợi thế vốn có của từng địa phương về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý,… để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp của từng địa phương cũng như toàn Vùng. Trước mắt, mỗi địa phương nên tập trung vào một vài lĩnh vực/nhóm ngành hàng đang có điều kiện mở rộng; chẳng hạn như Thừa Thiên Huế tập trung hơn cho phát triền ngành công nghiệp dệt may, da giày; Đà Nẵng lấy ngành điện tử, tin học, công nghệ cao làm trọng tâm phát triển; Quảng Nam đẩy mạnh các ngành công nghiệp hỗ trợ, đặc biệt là các ngành sản xuất linh kiện, lắp ráp phục tùng xe máy, ô tô; Quảng Ngãi với sự ngày càng lớn mạnh của KKT Dung Quất đã định hướng phát triển các ngành công nghiệp nặng trong giai đoạn sắp đến; Bình Định phát triển ngành công nghiệp sản xuất và chế biến gỗ; Phú Yên tận dụng thế mạnh của mình để phát triển ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản; Khánh Hòa đầu tư, tập trung hơn nữa cho ngành cơ khí đóng tàu; Ninh Thuận ưu tiên phát triển loại hình công nghiệp sạch, sử dụng nguồn năng lượng sạch, năng lượng hạt nhân; Bình Thuận đẩy mạnh sự phát triển ngành công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản hay các ngành năng lượng như nhiệt điện, năng lượng gió…

4.2. Nhóm giải pháp về hoàn thiện hệ thống htầng kỹ thuật

Phát triển hệ thống các cảng biển nước sâu, các sân bay quốc tế và quốc nội trong Vùng cần kết hợp với các KKT, KCN phức hợp nhằm đẩy nhanh kết nối sự phát triển của vùng duyên hải miền Trung với hai đầu đất nước, khu vực Tây Nguyên và các nước tiểu vùng sông Mê Kông.

Từng bước hiện đại hóa giao thông vận tải, thông tin liên lạc: Cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1 và đường sắt Bắc Nam, hoàn hiện hệ thống cơ sở hạ tầng các cảng biển mang tính liên kết thống nhất toàn Vùng; Hiện đại hóa hệ thống cung cấp điện, nước, thông tin, dịch vụ hải quan, giao thông, xử lý chất thải, nước thải, nhà ở và các công trình dịch vụ, văn hóa, xã hội; Đầu tư hệ thống hạ tầng đồng bộ, đặc biệt là hệ thống đường liên vùng, liên tỉnh, tuyến Hành lang Đông - Tây.

Hoàn thiện quy hoạch cơ sở hạ tầng bên trong, bên ngoài và phát triển các KKT, KCN tập trung, gắn sự phát triển của các khu, cụm công nghiệp với sự phát triển của hệ thống đô thị, dịch vụ từng địa phương cũng như toàn Vùng.

Xây dựng các Khu công nghệ cao, Khu công nghệ thông tin nhằm tạo điều kiện thuận lợi để thu hút, phát triển mạnh các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, mang lại giá trị gia tăng lớn như điện, điện tử, điện lạnh, cơ khí chế tạo, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin, viễn thông, ngành công nghiệp năng lượng...

Phát triển chuỗi đô thị ven biển gồm Chân Mây, Đà Nẵng, Hội An, Vạn Tường, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết.

Phối hợp với hãng Hàng không quốc gia Việt Nam xúc tiến mở các tuyến đường bay quốc tế trực tiếp đến các cảng hàng không quốc tế trong Vùng (Đà Nẵng, Phú Bài, Chu Lai, Cam Ranh) và mở thêm các đường bay trong nước nối các đô thị trong Vùng với nhau và với các trung tâm du lịch cả nước.

Phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng xã hội để đáp ứng nhu cầu phục vụ hiện tại và tính đến khả năng phục vụ lâu dài trong tương lai như nhà ở, bệnh viện, trường học, chợ và các công trình công cộng khác. Xây dựng và phát huy vai trò trung tâm kinh tế - văn hóa vùng của các thành phố gồm Đà Nẵng, Huế, Nha Trang.

4.3. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách

Xây dựng cơ chế chính sách liên kết vùng kinh tế về các ngành công nghiệp mũi nhọn và công nghiệp hỗ trợ mục tiêu.

Chính sách hỗ trợ ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp theo các cụm công nghiệp: đặc biệt đối với các doanh nghiệp lớn, sử dụng nhiều công nghệ và thiết bị, có hoạt động sản xuất nhiều công đoạn và cần nhiều chi tiết.

Chính sách hỗ trợ tài chính: nghiên cứu cơ chế cho thuê tài chính, giới thiệu và kêu gọi các công ty cho thuê tài chính trong nước và quốc tế đến đặt văn phòng hoặc hoạt động tại các đô thị lớn trong Vùng (Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang), thiết lập văn phòng hỗ trợ pháp lý và thông tin cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực cho thuê tài chính.

Chính sách tạo nguồn vốn xây dựng hạ tầng công nghiệp: kêu gọi đầu tư nước ngoài và sử dụng hợp lý nguồn ngân sách nhà nước; ban hành các chính sách về tín dụng: áp dụng lãi suất vay ưu đãi và kéo dài thời gian vay vốn đối với các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ ngành công nghiệp;

Chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực: hỗ trợ phát triển lĩnh vực đào tạo các ngành nghề theo mục tiêu, nguồn nhân lực chất lượng cao, kết hợp đào tạo tại các trung tâm chuyển giao công nghệ. Chính sách phát triển lao động và đào tạo nghề, phát triển các cơ sở đào tạo nghề phải gắn với nhu cầu phát triển ngành công nghiệp;

Chính sách quản lý: xây dựng các văn bản quy định về phẩm cấp kỹ thuật, đăng ký ngành nghề, thay đổi về hải quan, về chính sách thuế, ưu đãi tài chính, đất đai, hạ tầng, đầu tư, chính sách khuyến khích thành lập các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hỗ trợ, xây dựng quỹ đặc thù riêng cho công nghiệp hỗ trợ gắn chặt với các chính sách về cơ cấu kinh tế và phát triển vùng; Ban hành cơ chế quản lý nhà nước về xây dựng, quy hoạch và quản lý chiến lược phát triển ngành công nghiệp; Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với KCN, KKT; Xây dựng Luật Khu kinh tế, Khu công nghiệp nhằm hình thành hệ thống các quy định thống nhất, mang tính pháp lý cao điều chỉnh hoạt động của KCN và các loại hình KKT đi đúng định hướng, đạt hiệu quả cao và bền vững; Nâng cao nhận thức của các cơ quan nhà nước về vai trò, vị trí của các KCN, KKT trong quá trình CNH, HĐH đất nước; Thống nhất chủ trương tăng cường phân cấp, ủy quyền quản lý nhà nước KCN, KKT trên các lĩnh vực nhằm xây dựng Ban Quản lý KCN, KKT trở thành một cơ quan “đầu mối, tại chỗ” ở địa phương quản lý nhà nước KCN, KKT theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Chính sách phát triển khoa học công nghệ: hỗ trợ đổi mới công nghệ, khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế, nhất là đối với hàng xuất khẩu, thuê các chuyên gia giỏi về kỹ thuật, quản lý; có cơ chế thích hợp để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học; chính sách đãi ngộ xứng đáng các phát minh sáng chế, các sáng tạo công nghệ mới, sản phẩm mới....

Chính sách về thị trường: chương trình xúc tiến thương mại, khai thác ổn định thị trường trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu và phi hạn ngạch; Tăng cường công tác vận động xúc tiến đầu tư vào KCN, KKT với sự tham gia tích cực, đồng bộ của các Bộ, ngành và chính quyền địa phương các tỉnh trong Vùng; Quảng bá quy hoạch phát triển các KCN, KKT; Tổ chức các hội thảo, hội chợ, triển lãm ở trong và ngoài nước theo chuyên đề để hấp dẫn các nhà đầu tư; Dành kinh phí thỏa đáng cho công tác vận động xúc tiến đầu tư; Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng hệ thống thông tin phục vụ các nhà đầu tư trong lĩnh vực phát triển công nghiệp.

Chính sách đất đai: cần tuân thủ theo những quy định của Luật Đất đai và được xử lý trong các quy định liên quan để giải quyết thỏa đáng quyền lợi và trách nhiệm của doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN, KKT cũng như doanh nghiệp trong các KCN, KKT để đảm bảo tính nhất quán của chính sách ưu đãi về đất đai của Nhà nước đối với tất cả doanh nghiệp trong và ngoài KCN, tôn trọng quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp.

Kiểm soát chặt chẽ vấn đề môi trường: tăng cường thanh, kiểm tra việc thi hành pháp luật về môi trường trong các KCN, KKT gắn với việc xử lý vi phạm một cách kiên quyết, dứt điểm; Điều chỉnh các chế tài để đảm bảo tính răn đe đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường; Nâng cao năng lực quản lý về môi trường cho các Ban Quản lý KCN, KKT cả về nhân lực và trang thiết bị để tạo điều kiện cho các Ban Quản lý chủ động hơn trong thực hiện nhiệm vụ về bảo vệ môi trường KCN, KKT.


(Vietccr.vn)

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
939 lượt xem - 30.03.2017 : 14:18p
1.791 lượt xem - 07.06.2016 : 15:51p
2.082 lượt xem - 24.02.2016 : 15:10p
Tin đọc nhiều
46.535 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
22.739 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
21.902 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
20.476 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
17.793 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
15.625 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p