9:56 25/06/2012
Cỡ chữ

Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật Biển Việt Nam. Những cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển kinh tế biển của Việt Nam đã được xác lập.

Cảng Tiên Sa - TP Đà Nẵng nhìn từ trên cao

I

Kinh tế biển gồm những vấn đề rộng lớn như cảng biển, khu kinh tế và đô thị ven biển, khai thác tài nguyên bao gồm dầu khí, khoáng sản, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, vận tải biển và dịch vụ hàng hải, du lịch biển và hải đảo, gắn với chúng là chủ quyền, an ninh, an toàn quốc gia.

Việt Nam đang đứng trước cơ hội mới, với vị thế địa - chính trị trong khu vực và năng lực quốc gia đã gia tăng trong hơn một thập niên đầu thế kỷ XXI, đòi hỏi phải có tư duy phát triển phù hợp với đặc điểm của không gian biển để tái cấu trúc kinh tế biển, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trong quản lý nhà nước, hoạt động của doanh nghiệp (DN) và dân cư.

Khác với đất liền, không gian biển rộng mở, phát triển theo nhiều cấp độ có tác động tương hỗ với nhau, bao gồm mặt đất, mặt nước, đáy biển, lòng đất và bầu trời liên quan trực tiếp đến biển, đảo và quần đảo.

Trong đó, biển Đông nằm trên 5/10 trục đường giao thông hàng hải chủ yếu của thế giới, hàng năm vận chuyển khoảng 70% lượng dầu mỏ từ Trung Đông và Đông Nam Á, 45% hàng xuất khẩu của Nhật Bản và 60% hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc.

Cũng cần phải nói đến tiềm năng du lịch biển và hải đảo với hàng trăm khu nghỉ dưỡng đã được xây dựng, mỗi năm hàng chục chuyến tàu du lịch cao cấp cập cảng, rồi du lịch gắn với thể thao, khám phá…

Khái niệm không gian biển còn phải quan tâm đến vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia, với hoạt động vận tải viễn dương và khai thác hải sản trên đại dương mà nước ta cần có tầm nhìn và tổ chức hoạt động có hiệu quả hơn.

II

Không gian biển đòi hỏi tư duy phát triển hiện đại,  bền vững theo hướng kinh tế xanh, thân thiện với môi trường, bảo vệ và phát triển hệ sinh thái, tài nguyên, thích ứng với biến đổi khí hậu, công nghệ sạch, ít phát thải khí các bon và các khí gây hiệu ứng nhà kính, bảo đảm an toàn thực phẩm và có sức cạnh tranh trong khu vực và thế giới.

Không gian biển đòi hỏi sự hợp tác và hài hòa lợi ích của các hoạt động trên cùng một phạm vi không gian nhất định, hướng đến mục tiêu chung là tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, có hiệu quả kinh tế - xã hội và phát triển bền vững.

Trên thực tế đã xảy ra xung đột lợi ích giữa các hoạt động kinh tế với nhau, giữa mục tiêu tăng trưởng với bảo vệ môi trường, giữa lợi ích trước mắt với lâu dài, lợi ích cục bộ địa phương với lợi ích dân tộc. Ví dụ, giữa đánh bắt với bảo vệ nguồn lợi hải sản; giữa khai thác dầu khí với bảo vệ môi trường; giữa xây dựng cảng biển ở nhiều địa phương với quan điểm hiệu quả kinh tế - xã hội  của vùng…

“Quy trình phân tích, phân bố không gian cho hoạt động của con người tại các vùng biển nhằm đạt được mục tiêu về sinh thái, kinh tế - xã hội như được quy định cụ thể qua quy trình chính trị” (Sáng kiến của UNESCO về Quy hoạch không gian biển).

Trên cơ sở tư duy phát triển hiện đại, cần tiến hành điều chỉnh, bổ sung quy hoạch không gian biển theo nhiều cấp độ. Các quy hoạch đó được thực hiện bằng quản lý nhà nước đa ngành, bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội của mọi hoạt động, trong đó mỗi ngành kinh tế, dịch vụ thực hiện có hiệu quả mục tiêu của từng ngành, đồng thời góp phần tốt nhất thực hiện mục tiêu của từng cấp độ không gian.

Từ khi có chủ trương của Đảng và Nhà nước về Chiến lược biển, đã có những tiến bộ đáng kể từ tư duy đến hành động, nhận thức của công chức nhà nước, DN và người dân về tầm quan trọng và lợi ích của biển. Tổ chức hoạt động kinh tế, dịch vụ biển như đánh bắt, nuôi trồng thủy sản đã có bước phát triển khích lệ, chiếm 60% tổng sản lượng thủy sản cả nước; khai thác dầu khí đóng góp khoảng 25-28% thu ngân sách hàng năm; các vùng biển, hải đảo được khai thác hiệu quả hơn.

Mặc dù vậy, dưới giác độ tái cấu trúc kinh tế biển, phải nhìn thẳng vào sự thật rằng, do quy hoạch chưa thật hợp lý, đầu tư dàn trải, xây dựng quá nhiều cảng biển, khu kinh tế, không quan tâm đúng mức hiệu quả kinh tế - xã hội đã gây ra lãng phí tiền của, đất đai, chậm chạp trong phát triển các trung tâm kinh tế ven biển để làm động lực thúc đẩy phát triển từng vùng kinh tế.

III

Tái cấu trúc kinh tế biển, cũng như tái cấu trúc nền kinh tế nói chung, cần phải đổi mới tư duy theo quan điểm phát triển hiện đại, để có quyết tâm cao độ từ những nhà lãnh đạo cấp cao đến chính quyền địa phương, lãnh đạo DN đối với chuyển đổi mô hình tăng trưởng với động lực chủ yếu là khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Cần từ bỏ tập quán phát triển kinh tế theo phong trào, theo tư duy nhiệm kỳ. Từng địa phương phải nghiên cứu để nhận biết lợi thế so sánh của mình, tạo ra sự khác biệt về cơ cấu kinh tế, về từng loại dự án để các tỉnh, thành phố trong mỗi vùng tạo thành hợp lực phát triển kinh tế - xã hội, góp phần lớn hơn vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

 Lấy một ví dụ để thấy được sự cần thiết phải đổi mới tư duy đối với tái cấu trúc kinh tế biển. Mặc dù sự kiện Vinalines đang nhận được sự quan tâm của nhân dân cả nước, bởi theo báo cáo của Chính phủ với Quốc hội, cuối năm 2010, tỷ lệ nợ bằng 4,27 lần vốn điều lệ, hiệu quả kinh doanh giảm dần do tăng chi phí về lãi vay, chi phí quản lý và khối lượng lớn vốn đầu tư hiệu quả thấp. Từ năm 2011 bắt đầu thua lỗ, 4 tháng đầu năm 2012 vẫn tiếp tục thua lỗ, tình hình tài chính của DN này rất khó khăn, nhưng Bộ trưởng Giao thông - Vận tải vẫn chủ trương bơm 100.000 tỷ đồng để hiện đại hóa đội tàu của DN này. Chủ trương xây dựng đội tàu viễn dương hiện đại là đúng, nhưng vấn đề là cần bảo đảm để không có thêm “một Vinashin”. Có nghĩa là, cần chính sách khuyến khích và cơ chế hỗ trợ của nhà nước để lựa chọn mô hình tổ chức và tuyển chọn người đứng đầu có tâm và có tầm, với bước đi thích hợp nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao và có năng lực cạnh tranh quốc tế, chứ không nên giao cho một tổ chức gần như bị phá sản (!).

Trong các quy hoạch không gian biển cần xây dựng một số trung tâm theo mô hình “đô thị - cảng - biển” như Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu… làm động lực tăng trưởng cho từng vùng kinh tế. Các địa phương ngoại vi  cần được kết nối với trung tâm bằng chính sách liên kết, phân công và hợp tác, hỗ trợ và cơ chế tổ chức thích hợp để khai thác tốt nhất lợi thế của từng vùng.

Trong kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế với biến động khó lường về kinh tế và thị trường thế giới, thì việc theo dõi tình hình, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch là cần thiết. Khi quy hoạch đã được duyệt, cần nghiêm chỉnh thực hiện, không vì  đề xuất cá biệt của  địa phương mà điều chỉnh quy hoạch. Dù gây lãng phí nhất thời, cũng kiên quyết không triển khai những dự án nằm ngoài quy hoạch...

Tái cấu trúc kinh tế biển đòi hỏi phải rà soát toàn bộ chính sách, luật pháp, văn bản dưới luật có liên quan đến kinh tế biển như vận tải viễn dương, chế tạo tàu thủy, du lịch biển đảûo, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản… để sửa đổi đồng bộ theo tư duy đổi mới với quan điểm phát triển hiện đại, tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng, khuyến khích đầu tư phát triển, khai thác tối đa nguồn lực trong nước và quốc tế.

5 kiến nghị cụ thể

(1) DN và dân cư là đội quân chủ lực trong phát triển kinh tế biển cần được hỗ trợ của Nhà nước bằng chính sách ưu đãi, tài chính, tín dụng để nhanh chóng tạo lập nhiều DN lớn, có năng lực cạnh tranh tầm cỡ khu vực, những cộng đồng dân cư có tay nghề cao từ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, vận tải, du lịch, dịch vụ với thu nhập ngày càng tăng, tạo lập cơ sở xã hội trên các hải đảo, ven biển vừa có sức mạnh về kinh tế, vừa bảo đảm vững chắc an ninh của Tổ quốc.

(2) Khoa học và công nghệ gắn với kinh tế biển, mặc dù đã đạt được một số thành tựu đáng trân trọng, nhưng chưa đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển để trở thành cường quốc biển. Cần điều tra, đánh giá thực trạng, để từ mục tiêu đã được xác định năm 2020, cần tăng nhanh vốn đầu tư, cán bộ nghiên cứu, nâng cấp các viện khoa học về biển.

(3) Nguồn nhân lực để phát triển kinh tế biển từ quản lý, cán bộ kỹ thuật, kinh tế, môi trường đến nâng cao trình độ của ngư dân, người nuôi trồng thủy sản. Nước ta chưa có trường  chuyên về kinh tế biển, mới chỉ có một số bộ môn trong vài trường đại học, cao đẳng đào tạo nhân lực cho kinh tế biển. Đó là một nhược điểm cần được khắc phục.

(4) Hợp tác quốc tế để nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, vận tải biển cần được triển khai mạnh mẽ bằng chủ trương, chính sách theo tư duy đổi mới để khai thác tối đa lợi thế của hội nhập khu vực trong khuôn khổ ASEAN, APEC, với các tổ chức quốc tế. Đồng thời, để giải quyết đúng đắn theo luật pháp nước ta và luật pháp quốc tế những vấn đề đặt ra trong quan hệ song phương và đa phương về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, cần có chủ trương nhất quán theo quan điểm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, đặt trên lợi ích dân tộc trong xử lý tình huống đối với kinh tế biển.

(5) Quản lý nhà nước theo quan điểm đa ngành, khắc phục tình trạng phân tán do quản lý chuyên ngành với những chính sách, mục tiêu riêng lẻ, những quy định không phù hợp quan điểm không gian biển của chính quyền địa phương để nâng cao hiệu năng quản lý nhà nước. Cũng nên cân nhắc việc hình thành cơ cấu tổ chức đa ngành trong quản lý nhà nước đối với biển.

Với tư duy đổi mới, coi trọng vai trò DN và dân cư, lấy khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo nhân lực chất lượng cao làm động lực phát triển, mở rộng và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, quản lý nhà nước đa ngành, nước ta sẽ trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển.

 

GS - TSKH Nguyễn Mại

(Theo Báo Đầu tư)

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
2.203 lượt xem - 12.03.2015 : 15:31p
3.046 lượt xem - 03.03.2015 : 14:39p
2.111 lượt xem - 05.01.2015 : 13:58p
2.556 lượt xem - 15.07.2013 : 15:51p
3.473 lượt xem - 25.06.2013 : 8:27p
Tin đọc nhiều
51.209 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
24.624 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
23.145 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
22.612 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
19.224 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
16.672 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p