10:04 10/08/2012
Cỡ chữ

Nhóm tư vấn hợp tác phát triển miền Trung (2)

    ĐẶT VẤN ĐỀ:

1. Tính đến thời điểm này, vùng duyên hải 7 tỉnh miền Trung (gồm Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa; sau đây gọi tắt là Vùng) đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập 42 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích đất tự nhiên 13.871,85 ha (trong đó có 7 KCN thuộc các khu kinh tế (KKT) ven biển trong Vùng với diện tích quy hoạch là 5.980 ha đang triển khai xây dựng và thu hút đầu tư); hiện có 24 KCN, với diện tích 5.431,15 ha đã xây dựng và đi vào hoạt động; thu hút được nhiều nhà đầu tư lớn, nhiều dự án lớn hoạt động; tạo được công ăn việc làm cho người dân địa phương; tạo nguồn thu ngân sách cho nhà nước; thúc đẩy quá trình chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế trên địa bàn. Trong hơn 10 năm qua, với sự quyết tâm và nỗ lực của chính quyền các địa phương, trong Vùng đã huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, thu hút nhiều dự án và nhà đầu tư tương đối lớn vào hoạt động trong các KCN. Một số KCN đã lấp đầy và khai thác có hiệu quả...

2. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc xây dựng và phát triển các KCN đang còn nhiều vấn đề đặt ra phải giải quyết. Với số lượng các KCN hiện hữu đã cho thấy, việc xây dựng KCN khá dàn trải dẫn đến phân tán vốn đầu tư; thiếu đồng bộ trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng; gặp khó khăn trong việc thu hút nhà đầu tư. Ngay cả những KCN đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng thì tỷ lệ lấp đầy vẫn còn thấp, chưa đóng góp vào nền kinh tế tương xứng với nguồn lực đã đầu tư; chưa thể hiện được vai trò động lực phát triển kinh tế địa phương như mục tiêu đề ra. Bên cạnh đó, mô hình quản lý và chính sách thu hút đầu tư chưa mang lại hiệu quả; chính sách ưu đãi đầu tư thiếu hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư chiến lược tạo nên sự đột phá trong phát triển. Ngay trong từng địa phương cũng thiếu sự phân công và liên kết phát triển giữa các KCN; giữa KCN và KKT, các cụm công nghiệp trên toàn địa bàn.

Từ những vấn đề đang đặt ra ở trên, cần phải nghiên cứu tổng kết, đánh giá về thực trạng phát triển các KCN trong Vùng; xác định nguyên nhân của những yếu kém, bất cập; đúc kết các bài học kinh nghiệm nhằm đề xuất những chính sách và giải pháp thu hút đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng các KCN trong Vùng…

NỘI DUNG BÁO CÁO

I. Thực trạng tình hình thu hút đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng tại các khu công nghiệp

1. Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của Vùng

Vùng duyên hải miền Trung nằm ở vị trí trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Các quốc lộ 14B, 24, 19, 20, 26, 29 nối các cảng biển đến vùng Tây Nguyên và trong tương lai gần sẽ nối với hệ thống đường xuyên Á qua Lào, Đông Bắc Campuchia, Thái Lan, Myanmar theo Hành lang kinh tế Đông Tây, đồng thời là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên và các nước trên đến các nước vùng Đông Bắc Á. Vị trí địa lý là một lợi thế quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho Vùng mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên, cả nước và quốc tế.

Vị thế kinh tế của Vùng so với cả nước ngày càng được nâng cao. Trong giai đoạn 2006 - 2011, tỷ trọng GDP của Vùng so với cả nước đã tăng từ 8,9% lên 11,7%; tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vùng đạt được mức khá cao và ổn định (bình quân khoảng 12,5%/năm, cao gần gấp 2 lần so với tỷ lệ tăng trưởng bình quân của cả nước).

Cùng với tăng trưởng kinh tế khá cao, GDP bình quân đầu người của Vùng cũng có sự cải thiện đáng kể (năm 2006 đạt 9,3 triệu đồng/người theo giá hiện hành (tương ứng 4,7 triệu đồng/người theo giá cố định năm 1994) - thấp hơn mức trung bình của cả nước, nhưng đến năm 2011 đã đạt 27,6 triệu đồng/người (tương ứng 8,3 triệu đồng/người theo giá cố định năm 1994) - gấp 1,2 lần so với bình quân cả nước). Tuy nhiên, sự chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người giữa các địa phương trong Vùng, giữa thành thị và nông thôn còn khá lớn và có xu hướng gia tăng.

Cơ cấu kinh tế của Vùng chuyển dịch khá nhanh, tỷ trọng đóng góp của nông - lâm - thủy sản vào GDP có xu hướng giảm (từ 23,5% năm 2006 xuống 15,7% năm 2011); trong khi đó công nghiệp - xây dựng lại có sự tăng trưởng cao, tỷ trọng đóng góp vào GDP tăng nhanh (từ 36,6% năm 2006 lên 41,8% năm 2011). Đây là xu hướng chung của các địa phương trong Vùng; ngoại trừ Thành phố Đà Nẵng công nghiệp - xây dựng luôn chiếm tỷ trọng cao, các địa phương còn lại đều có xu hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong cơ cấu GDP.  

Ngành công nghiệp của Vùng đạt tăng trưởng cao và liên tục trong giai đoạn 2007 - 2011 với tốc độ tăng bình quân 19,51%/năm. Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2011 đạt 74,48 nghìn tỷ đồng, tăng 11,28% so với năm 2010; thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng trong hai năm đầu của giai đoạn này (14,54%).

Kim ngạch xuất khẩu của Vùng đã tăng khoảng 1,9 lần trong giai đoạn 2007 -  2011, với tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 18,39%. Năm 2011 đạt 3.317,49 triệu USD, trong đó tỉnh dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu là Khánh Hòa với tổng giá trị xuất khẩu năm 2011 đạt 945,6 triệu USD, tiếp theo là Đà Nẵng với 771 triệu USD.

2. Các KCN trong Vùng

Trong tổng số 42 KCN đã có Quyết định thành lập (với tổng diện tích đất tự nhiên 13.871,85 ha) có 24 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích 5.431,15 ha, diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê 3.538,04 ha, trong đó diện tích đất đã được cho thuê là 2.390,72 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 67,57%. Quy mô bình quân 1 KCN là 545,44 ha, cao hơn nhiều so với bình quân chung của cả nước (268,55 ha). Việc phân bổ các KCN trong Vùng như sau:

- Tỉnh Thừa Thiên Huế: 

Hiện nay có 7 KCN với tổng diện tích 2.950 ha (bao gồm 1 KCN và phi thuế quan tại KKT Chân Mây - Lăng Cô 680 ha và 6 KCN còn lại trên địa bàn tỉnh: KCN Phú Bài 820 ha; KCN Phong Điền 400 ha (hướng mở rộng lên 700 ha); KCN Tứ Hạ 250 ha; KCN Quảng Vinh 150 ha; KCN Phú Đa 250 ha; KCN La Sơn 300 ha). Đến nay, các KCN tỉnh Thừa Thiên Huế đã thu hút được 76 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 9.000 tỷ đồng; trong đó có 19 dự án FDI với số vốn đăng ký gần 200 triệu USD.

Có 3 KCN đã đi vào vận hành (KCN và phi thuế quan Chân Mây, KCN Phú Bài và KCN Phong Điền). Tỷ lệ lấp đầy các KCN Phú Bài 1, Phú Bài 2 đạt 98%; khu B KCN Phong Điền đạt 67%; KCN Sài Gòn - Chân Mây đã xây dựng xong trên 30.000 m2 nhà xưởng cho thuê. Các dự án đầu tư vào các KCN chủ yếu tập trung vào những ngành nghề: sợi, dệt may, chế biến gỗ, đồ uống… Các doanh nghiệp trong các KCN đã đóng góp tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Năm 2011, giá trị sản xuất công nghiệp (SXCN) của các doanh nghiệp trong các KCN đạt gần 3.000 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước (NSNN) đạt 638 tỷ đồng, tăng 7,4% so với năm 2010; kim ngạch xuất khẩu  (KNXK) đạt gần 230 triệu USD, tạo công ăn việc làm cho 12.800 lao động.

- Thành phố Đà Nẵng:

Hiện nay có 6 KCN tập trung đã đi vào vận hành, tổng diện tích các KCN là 1.141,82 ha, bao gồm: KCN Hòa Khánh diện tích 395,72 ha; KCN Hòa Khánh mở rộng diện tích 212,12 ha; KCN Liên Chiểu diện tích 307,7 ha;  KCN Hòa Cầm diện tích 137 ha; KCN dịch vụ thủy sản Đà Nẵng (dịch vụ thủy sản Thọ Quang) diện tích 57,99 ha và  KCN Đà Nẵng có diện tích 50 ha.

Các KCN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng do Ban Quản lý KCN thành phố Đà Nẵng quản lý đã thu hút được 272 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đạt 11.946,7 tỷ đồng và 75 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) với số vốn đầu tư là 689,4 triệu USD, tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho thuê của các KCN là 85,77%, (đặc biệt) có KCN Đà Nẵng tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho thuê đạt 100%).

Năm 2011, giá trị SXCN của các KCN đạt 13.352 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho 63.047 lao động, giá trị KNXK đạt 342,57 triệu USD, nộp NSNN 428,03 tỷ đồng.

- Tỉnh Quảng Nam:

Hiện nay tỉnh Quảng Nam có 6 KCN (trong 9 KCN đã quy hoạch) đã đi vào hoạt động với tổng diện tích quy hoạch là 2.177,5 ha; trong đó 3 KCN do Ban Quản lý các KCN quản lý (KCN Điện Nam - Điện Ngọc diện tích 418 ha, KCN Thuận Yên diện tích 230 ha, KCN Đông Quế Sơn diện tích 211 ha) và 3 KCN do Ban Quản lý KKT Chu Lai quản lý (KCN Tam Hiệp diện tích 718,5 ha, KCN Bắc Chu Lai diện tích 357 ha và KCN Cơ khí ô tô Chu Lai - Trường Hải diện tích 243 ha); đã đầu tư cơ bản hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật các KCN Tam Hiệp, KCN Bắc Chu Lai, KCN cơ khí ô tô Chu Lai - Trường Hải, KCN Điện Nam - Điện Ngọc và đang triển khai đầu tư hạ tầng KCN Thuận Yên, KCN Đông Quế Sơn; KCN Điện Nam - Điện Ngọc có tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho thuê 85%. Năm 2011, các doanh nghiệp trong các KCN có giá trị SXCN 7.073 tỷ đồng, giá trị KNXK là 208 triệu USD và giải quyết 32.880 lao động.

- Tỉnh Quảng Ngãi:

Hiện có 3 KCN do Ban Quản lý KCN tỉnh quản lý với tổng diện tích là 405,83 ha, trong đó KCN Phổ Phong đang trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và kêu gọi đầu tư (143,7 ha), 2 KCN đã đi vào vận hành là: KCN Tịnh Phong (141,72 ha) và KCN Quảng Phú (120,41 ha).

Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho thuê của 2 KCN trên là 60,93%, thu hút được 78 dự án đầu tư trong nước với số vốn đầu tư là 4.379,5 tỷ đồng và 4 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) với số vốn là 28,4 triệu USD. Năm 2011, giá trị SXCN của các KCN đạt 2.175 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho 8.054 lao động, giá trị KNXK đạt 11 triệu USD, nộp NSNN 573 tỷ đồng.

- Tỉnh Bình Định:

Hiện có 8 KCN với tổng diện tích là 3.270 ha, trong đó có 3 KCN đã đi vào vận hành gồm: KCN Phú Tài với diện tích 345,8 ha;  KCN Long Mỹ với diện tích 110 ha và KCN Nhơn Hòa với diện tích 272 ha. 

Tính đến hết năm 2011, 3 KCN đã đi vào vận hành trên địa bàn tỉnh Bình Định đã thu hút được 191 dự án đầu tư, trong đó 184 dự án đầu tư trong nước với số vốn là 4.950,8 tỷ đồng và 7 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) với số vốn là 47,71 triệu USD. Năm 2011, giá trị SXCN của KCN đạt 2.867,3 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho 17.070 lao động, giá trị KNXK đạt 159,48 triệu USD, nộp NSNN 299,78 tỷ đồng.

- Tỉnh Phú Yên:

Hiện có 4 KCN do Ban Quản lý KKT tỉnh quản lý với tổng diện tích là 381,75 ha. Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho thuê của 4 KCN trên là 85,98%, thu hút được 75 dự án đầu tư, trong đó, 64 dự án đầu tư trong nước với số vốn đầu tư là 2.041 tỷ đồng và 11 dự án FDI với số vốn là 33,07 triệu USD. Năm 2011, giá trị SXCN các KCN là 3.815,6 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho 6.131 lao động, giá trị KNXK đạt 123 triệu USD, nộp NSNN 47,5 tỷ đồng.

- Tỉnh Khánh Hòa:

Hiện có 5 KCN gồm: KCN Suối Dầu, KCN Ninh Thủy, KCN Vạn Thắng, KCN Bắc Cam Ranh và KCN Nam Cam Ranh do Ban Quản lý KKT quản lý với tổng diện tích là 880 ha, trong đó chỉ có KCN Suối Dầu đã đi vào vận hành. Tính đến hết năm 2011, KCN Suối Dầu đã thu hút được 55 dự án đầu tư, trong đó có 34 dự án trong nước với số vốn là 4.223 tỷ đồng và 21 dự án nước ngoài với 105,08 triệu USD, tỷ lệ lấp đầy của KCN Suối dầu đạt 78,72%. Năm 2011, giá trị SXCN của các KCN đạt 3.625,8 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho 10.000 lao động, giá trị KNXK đạt 163,63 triệu USD, nộp NSNN là 130,63 tỷ đồng.

II. Những thành tựu và các vấn đề đang đặt ra

1. Một số kết quả đạt được:

Sự phát triển nhanh các KCN của Vùng trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh/thành phố trong Vùng, thể hiện qua một số mặt sau: 

1.1. Thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư trong và ngoài nước, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

Trong những năm qua, bên cạnh các chính sách ưu đãi của Nhà nước, các tỉnh/thành phố trong Vùng đã ban hành thêm các chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có các chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào các KCN.

Tính đến cuối năm 2011, các KCN trong V ùng đã thu hút được 943 dự án đầu tư, trong đó có 775 dự án đầu tư trong nước với số vốn đầu tư 60.613,9 tỷ đồng và 168 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) với tổng số vốn là 1.388,81 triệu USD.   

Tổng diện tích đất công nghiệp cho thuê của các KCN đã đi vào vận hành trong Vùng là 3.538,04 ha, diện tích đất đã cho thuê để thực hiện các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh là 2.390,72 ha, tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho thuê của các KCN đạt 67,57% (cả nước là 65%); trong đó cao nhất là các KCN đã vận hành của tỉnh Bình Định đạt 88,99%; tỉnh Phú Yên đạt 85,98% và Đà Nẵng đạt 85,77%.

Tỷ suất đầu tư vốn tính trên 1 ha đất cho thuê tại các KCN đã đi vào vận hành Vùng duyên hải miền Trung đạt 25,37 tỷ đồng/ha đối với tổng dự án đầu tư. Năm 2011, nếu tính trên 1 ha đất công nghiệp đã cho thuê tại các KCN đã đi vào vận hành trong Vùng tạo ra giá trị SXCN là 15,02 tỷ đồng/ha; giá trị KNXK là 0,517 triệu USD/ha và tạo ra việc làm cho 63 lao động.

1.2. Thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm và tăng nguồn thu ngân sách.

Năm 2011, giá trị SXCN của các KCN trong Vùng đạt 35.908,7 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho 149.982 lao động, giá trị KNXK đạt 1.237,6 triệu USD, nộp NSNN là 2.256,9 tỷ đồng. Tỷ trọng giá trị SXCN trong các KCN so vối tổng giá trị sản lượng công nghiệp trên địa bàn đạt mức bình quân từ 30 - 40% ở các địa phương trong Vùng và đang có xu hướng tăng dần, cao nhất là Đà Nẵng là 98,9% và thấp nhất là Quảng Ngãi là 12,3%.

1.3. Hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng.

Những năm qua, các tỉnh/thành phố cùng với các chủ đầu tư KCN, các công ty phát triển hạ tầng KCN trong Vùng đã nỗ lực xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ cho sự hình thành và phát triển các KCN như: xây dựng đường giao thông đường bộ kết nối từ quốc lộ vào các KCN; hệ thống lưới điện, hệ thống chiếu sáng, hệ thống cấp thoát nước, bưu chính viễn thông, giao thông kết nối các doanh nghiệp trong KCN, hệ thống xử lý nước thải…

1.4. Góp phần thúc đẩy các ngành, các lĩnh vực khác phát triển.

Sự phát triển của các KCN đã góp phần tạo điều kiện cho các ngành, các lĩnh vực khác phát triển như: đào tạo nghề, dịch vụ ăn uống, tư vấn, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, phát triển đô thị, thi công xây dựng công trình, vận tải hàng hóa, cung ứng nguồn nhân lực, vệ sinh môi trường, thu gom xử lý rác thải công nghiệp…

1.5. Bước đầu góp phần tích cực vào bảo vệ môi trường sinh thái.

Phần lớn các KCN đi vào vận hành đã và đang xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung vận hành ổn định, chất lượng nước thải sau khi xử lý tập trung luôn được kiểm soát thường xuyên và đạt tiêu chuẩn môi trường quy định; hầu hết các KCN đầu tư trồng cây xanh tại các tuyến đường nội bộ và xung quanh KCN. Bên cạnh đó, các KCN trong quá trình xét chọn các nhà đầu tư đã chú trọng lựa chọn các dự án có công nghệ sản xuất không có hoặc ít gây ảnh hưởng đến môi trường.

2. Những vấn đề đang đặt ra:

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc xây dựng và phát triển các KCN trong Vùng đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết:

2.1. Số lượng các KCN đã đi vào vận hành chưa nhiều, quy mô vốn đầu tư và thu hút các dự án vào các KCN hạn chế.

Tính đến hết năm 2011, toàn Vùng mới chỉ có 24 KCN đi vào vận hành, chiếm 57,14% tổng số KCN trong Vùng (trong số 42 KCN được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập). Nếu xét về số lượng các KCN đã đi vào vận hành, thì các KCN của Vùng chiếm 13,33% tổng số lượng các KCN đã đi vào vận hành của cả nước và chiếm 17,22% tổng diện tích đất, nhưng các KCN trong Vùng chỉ chiếm 10,72% số dự án đầu tư, 14,43% vốn đầu tư trong nước và đặc biệt vốn đầu tư của các dự án nước ngoài chỉ chiếm 2,33% tổng số vốn FDI đầu tư vào các KCN của cả nước.

Vốn đầu tư bình quân/1 dự án tại các KCN đã đi vào vận hành vùng duyên hải miền Trung đạt 78,21 tỷ đồng (đối với dự án đầu tư trong nước) và 8,27 triệu USD (đối với dự án đầu tư nước ngoài), trong khi chỉ tiêu này bình quân của cả nước lần lượt là 89,72 tỷ đồng và 14,49 triệu USD.

2.2. Sự bất cập giữa mục tiêu phát triển nhanh công nghiệp của chính quyền địa  phương với nhu cầu thực tế thị trường đầu tư công nghiệp của nước ta.

Trừ Thành phố Đà Nẵng, tất cả địa phương trong Vùng đều có 3 loại hình phát triển công nghiệp tập trung: các khu chức năng công nghiệp trong các KKT; KCN và các cụm công nghiệp. Ngoài ra còn có sự phát triển các xí nghịêp sản xuất công nghiệp tự phát nằm ven các trục quốc lộ, tỉnh lộ, giao thông nông thôn… đã tạo nên sự cạnh tranh thu hút các nhà đầu tư ngay trong nội bộ của mỗi tỉnh (như giữa KCN với các huyện, thị). Vấn đề này đang ảnh hưởng đến chính sách và mục tiêu quy hoạch phát triển công nghiệp của địa phương và gây lãng phí nguồn lực.

2.3. Các ngành nghề thu hút đầu tư vào các KCN còn trùng lắp, chính sách thu hút không đồng bộ, thiếu gắn kết.

Do các tỉnh, thành phố trong Vùng (trừ thành phố Đà Nẵng) đều có điều kiện phát triển tương tự nhau nên đã dẫn đến tình trạng việc thu hút đầu tư các ngành nghề khá trùng lắp (hầu hết các tỉnh/thành phố đều thu hút các ngành như: (dệt may, da giày, lắp ráp điện tử, vật liệu xây dựng, chế biến nông - lâm - thủy sản…), sự trùng lắp các ngành nghề thu hút đầu tư không chỉ giữa các tỉnh/thành phố  với nhau mà còn diễn ra ngay giữa các KCN trong cùng một tỉnh/thành phố. Bên cạnh đó, cơ chế chính sách thu hút lại thiếu đồng bộ, thiếu gắn kết và hỗ trợ nhau giữa các tỉnh/thành phố, xuất hiện tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, chèn lấn trong việc thu hút đầu tư.

2.4. Hàm lượng khoa học, công nghệ trong các dự án đầu tư còn thấp; các ngành sản xuất công nghiệp trong các KCN chưa có tác dụng đáng kể đến sự phát triển nông nghiệp địa phương.

Trong những năm qua, phần lớn các tỉnh/thành phố và các chủ đầu tư các KCN vùng duyên hải miền Trung vẫn đang ưu tiên đến việc thu hút các dự án đầu tư để lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho thuê của các KCN, đa số các dự án đầu tư đi vào hoạt động tại các KCN chủ yếu là sản xuất gia công, sử dụng nhiều lao động, giá trị gia tăng thấp (dệt may, da giày, lắp ráp điện tử, cơ khí, vật liệu xây dựng…) mà chưa thực sự chú trọng thu hút, lựa chọn các dự án đầu tư các ngành có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn như công nghệ thông tin, cơ điện tử, công nghệ sinh học… Các ngành công nghiệp thu hút vào các KCN chưa gắn kết với mục tiêu phát triển nông nghiệp của địa phương nhằm khai thác thế mạnh của nông nghiệp; thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.

2.5. Công tác bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập.

Theo báo cáo của các KCN công tác bảo vệ môi trường trong các KCN thời gian qua đã được cải thiện, hầu hết các KCN đi vào vận hành đã và đang xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung. Tuy nhiên thực tế cho thấy do các KCN đều phát triển sản xuất đa ngành, đa lĩnh vực nên thải nhiều loại nước thải khác nhau, dẫn đến việc thu gom và xử lý chung rất khó khăn; mặt khác không ít doanh nghiệp chỉ đang chạy theo lợi ích kinh tế mà không chịu đầu tư xây dựng hệ thống thu gom và đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN, phớt lờ việc xử lý nước thải mà lén lút xả trộm ra môi trường bên ngoài; không hợp đồng với các công ty môi trường trong việc thu gom và xứ lý rác thải đang diễn ra tại nhiều KCN. Bên cạnh đó, việc đầu tư xử lý cục bộ các nguồn ô nhiễm khói, bụi, tiếng ồn tại các nhà máy trong KCN còn thấp, cộng với tình trạng ô nhiễm do giao thông vận tải gây ra đã khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường tại các KCN và khu vực xung quanh KCN đang trong tình trạng đáng báo động trong khi công tác kiểm tra, giám sát việc bảo vệ môi trường vẫn chưa được tiến hành thường xuyên.

2.6. Công tác đền bù giải tỏa, giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều khó khăn; hệ thống kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ.

Hệ thống kết cấu hạ tầng nhiều KCN (kể cả các KCN đã vận hành) trong vùng duyên hải miền Trung còn chưa được chú trọng đầu tư, xây dựng một cách đồng bộ, đạt chất lượng cao; việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào các KCN như giao thông, điện, nước chưa đồng bộ; hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông kết nối các KCN trong Vùng còn hạn chế.

2.7. Cơ chế chính sách đối với các KCN còn nhiều vướng mắc, cần tiếp tục hoàn thiện.

Vấn đề phân cấp, ủy quyền và chức năng, nhiệm vụ của một số Ban Quản lý KCN chưa thực hiện đầy đủ, nhất là các lĩnh vực về môi trường, lao động… Bên cạnh đó, một số địa phương vẫn chưa kiện toàn, sắp xếp lại bộ máy quản lý KCN theo hướng thành lập một Ban Quản lý tập trung đối với các KKT, KCN trên địa bàn theo Nghị định 29/2008/NĐCP (Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi). Các chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào các KCN thiếu sự thống nhất, gắn kết giữa các địa phương trong Vùng, dẫn đến nguy cơ cạnh tranh thiếu lành mạnh, không hỗ trợ lẫn nhau.

2.8. Đời sống của người lao động trong các KCN còn khó khăn.

Mặc dù những năm qua tiền lương của người lao động trong các KCN đều tăng lên, tuy nhiên do giá cả các mặt hàng thiết yếu tăng nhanh đã làm cho thu nhập thực tế của người lao động nói chung, người lao động trong các KCN nói riêng không những không tăng mà còn giảm sút. Điều kiện làm việc khắc nghiệt (môi trường ô nhiễm, tai nạn lao động luôn rình rập, tăng ca quá mức cho phép, không bảo đảm các chế độ xã hội như bảo hiểm, ký kết hợp đồng lao động…).

Bên cạnh đó, hiện các KCN chưa thực sự chú trọng đến việc đầu tư xây dựng nhà ở cho người lao động và xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (nhà trẻ, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, bưu điện, chợ...). Do vậy, phần lớn người lao động trong các KCN phải tự tìm kiếm chỗ ở, sống tạm bợ ở các nhà trọ trong các khu dân cư với giá cao, chật chội, ẩm thấp, điều kiện sống kém tiện nghi; họ phải gửi con nhỏ tại các nhà trẻ, điểm giữ trẻ tư nhân, không có giấy phép và không đạt tiêu chuẩn… 

2.9. Tình trạng thiếu lao động trong các KCN đang là nghịch lý của chính sách thu hút đầu tư phát triển các KCN trong Vùng.

Với chính sách ưu đãi về miễn giảm thuế, giá đất… để thu hút các nhà đầu tư nhằm giải quyết việc làm cho người dân và tạo nguồn thu cho ngân sách. Tuy nhiên, nhiều KCN đang đứng trước thực trạng là không tìm được lao động tại địa phương để mở rộng quy mô. Một bộ phận khá lớn lao động ở nông thôn miền Trung di chuyển tìm việc làm ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong khi đó các KCN tại chỗ đang thiếu lao động. Nếu không giải quyết được vấn đề này thì khu vực miền Trung không còn lợi thế để thu hút đầu tư.

2.10. Thiếu sự gắn kết, hợp tác lẫn nhau giữa các KCN, các doanh nghiệp trong KCN trong Vùng.

Do phát triển tự phát không dựa trên quy hoạch Vùng, quy hoạch phát triển ngành nên dẫn đến tình trạng thiếu sự gắn kết, hợp tác lẫn nhau giữa các KCN, giữa các doanh nghiệp trong cùng KCN.

3. Một số nhận định từ thực tiễn phát triển các KCN trong Vùng

Qua nghiên cứu, khảo sát các KCN tại một số địa phương trong Vùng, từ những KCN rất thành công trong việc thu hút đầu tư đến những nơi chưa thành công, chúng tôi sơ bộ rút ra một số nhận định sau đây:

3.1. Nếu tính tổng diện tích đất quy hoạch phát triển công nghiệp bao gồm 35 KCN, 7 KKT ven biển, hàng trăm cụm công nghiệp, thì rõ ràng sức cung vượt quá sức cầu thị trường đầu tư công nghiệp của nước ta trong 10 - 15 năm tới. Đây là một thực tế cần phải xem xét để lựa chọn ưu tiên bố trí nguồn lực và thu hút đầu tư; tránh lãng phí nguồn lực và nguy cơ “quy hoạch treo”.

3.2. Việc thành lập nhiều KCN trong một thời gian ngắn tại các tỉnh/thành phố trong Vùng đã làm cho nguồn lực đầu tư bị dàn trải, tốn kém đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, gây lãng phí đất đai… Nhiều KCN chưa tạo được ưu thế để thu hút nhà đầu tư, do sự thiếu đồng bộ trong việc xây dựng hạ tầng giao thông kết nối các KCN và sự yếu kém về cung cấp dịch vụ công nghiệp (cấp điện, nước, viễn thông…). Thậm chí ở nhiều địa phương, các doanh nghiệp thích chọn địa điểm bên ngoài các KCN để xây dựng xí nghiệp thay vì vào các KCN.

3.3. Những KCN do các nhà đầu tư tư nhân xây dựng và kinh doanh hạ tầng tiết kiệm chi phí đầu tư và thúc đẩy nhanh quá trình lấp đầy diện tích đất cho thuê hơn là Nhà nước trực tiếp xây dựng hạ tầng bằng ngồn vốn ngân sách để thu hút doanh nghiệp vào đầu tư. Tuy nhiên, nếu không kiểm soát chặt chẽ việc tuân thủ quy hoạch các ngành công nghiệp cho từng KCN sẽ dễ dẫn tới tình trạng nhà đầu tư thu hút mọi loại ngành công nghiệp để cho thuê đất nhằm nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư.

Ở một địa bàn khi mà đã áp dụng tất cả những chính sách ưu đãi cao nhất về đất đai, thuế... mà vẫn chưa hấp dẫn được nhà đầu tư, chính là do yếu tố khách quan về thị trường chưa chín mùi; vị trí xây dựng KCN không thuận lợi. Do đó, không nên nóng vội sử dụng vốn ngân sách thay cho nguồn vốn tư nhân. Việc dùng vốn ngân sách chỉ nên tập trung vào khâu đền bù, giải tỏa và xây dựng kết cấu hạ tầng bên ngoài KCN.

Kinh nghiệm cho thấy, các KCN thành công khi chọn được nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng thật sự có uy tín và có khả năng thu hút các DN đầu đàn vào đầu tư xây dựng xí nghiệp.

3.4. Cơ chế, chính sách ưu đãi chung đối với các KCN còn nhiều điểm vướng mắc cần tiếp tục hoàn thiện. Quy định ưu đãi đối với các KCN trong pháp luật về thuế thường xuyên thay đổi, thiếu ổn định, mức ưu đãi đối với các dự án đầu tư vào KCN và dự án mở rộng còn nhiều điểm chưa hợp lý, chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài lớn, có uy tín.

3.5. Chính sách ưu đãi thu hút đầu tư của các địa phương chưa thống nhất, đặc biệt đã xuất hiện tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, chèn ép lẫn nhau trong việc thu hút, mời gọi đầu tư giữa các KCN, giữa các địa phương với nhau. Việc áp dụng chính sách không thu tiền sử dụng đất đối với các nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN đang trở thành một trong các nguyên nhân đầu cơ đất KCN, chiếm đất, giữ đất đối với một số nhà đầu tư.

3.6. Tư duy quy hoạch và phát triển các KCN còn mang tính cục bộ, địa phương mà chưa tính đến liên kết vùng, liên kết ngành; thiếu sự hợp tác, phối hợp giữa các KCN trong Vùng, việc đầu tư các KCN không theo quy hoạch thống nhất; các KCN có chức năng tương tự như nhau, do đó đã không khai thác được các tiềm năng, lợi thế so sánh và chưa tạo được sự hỗ trợ và bổ sung cần thiết cho nhau.

3.7. Công tác xúc tiến đầu tư còn chưa hiệu quả, chương trình xúc tiến đầu tư vào KCN hiện chưa được xây dựng đồng bộ, thống nhất giữa các các tỉnh/thành phố trong Vùng, chưa thu hút được các dự án đầu tư có ngành nghề, hàm lượng công nghệ phù hợp lợi thế phát triển. Bên cạnh đó, các chương trình, kế hoạch xúc tiến đầu tư giữa các cơ quan Trung ương và địa phương còn chưa thống nhất, đồng bộ.

3.8. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu của các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư nước ngoài. Hiện tượng nghịch lý là thiếu cả lao động phổ thông ở các KCN cho thấy việc chính quyền các địa phương phát triển KCN chưa gắn với việc phát triển nguồn nhân lực, công tác đào tạo nghề. Trong chính sách ưu đãi đầu tư, chính quyền địa phương thường quá chú trọng đến chính sách thuế và đất đai, mà chưa chú ý đúng mức đến biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp bằng cách cung cấp nguồn nhân lực tốt.

III. KIẾN NGHỊ

1. Những vấn đề chung đối với Vùng

1.1. Vấn đề quy hoạch xây dựng và phát triển các KKT, KCN trong Vùng đã và đang thực hiện dựa vào tư duy hình thành cơ cấu kinh tế tỉnh; đồng hóa địa giới hành chính với không gian kinh tế, nên không phát huy được thế mạnh ở quy mô Vùng. Do đó, vấn đề mấu chốt hiện nay đối với bài toán phát triển Vùng nói chung và phát triển các KCN nói riêng là phải điều chỉnh lại quy hoạch phân bố lực lượng sản xuất trên quy mô Vùng làm cơ sở để phân bố nguồn lực đầu tư; giải quyết hệ thống hạ tầng chung; đào tạo, sử dụng và phát triển thị trường lao động chung.

Từ sự liên kết Vùng, dựa vào lợi thế kinh tế biển, tiến tới liên kết phát triển với Tây Nguyên và các nước trong khu vực thông qua Hành lang kinh tế Đông - Tây. Trước mắt cần hoàn thiện công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch các KCN trên cơ sở đánh giá tiềm năng, lợi thế của từng địa phương và của Vùng, gắn kết với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch khu đô thị, quy hoạch khu dân cư, quy hoạch nhà ở.

1.2. Nghiên cứu đề nghị Chính phủ cho thí điểm thực hiện các hình thức của mô hình công tư đối tác (PPP) để thu hút nguồn đầu tư tư nhân trong và ngoài nước, trước mắt ưu tiên 3 lĩnh vực: giao thông; cảng và hạ tầng KKT, KCN. Cần lựa chọn những dự án có lợi thế nhất để thí điểm. Sử dụng nguồn vốn ngân sách và ODA làm đối ứng trong các dự án PPP.

1.3. Đối với các KCN đã xây dựng kết cấu hạ tầng tương đối đống bộ, cần tập trung thu hút những dự án có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, cung cấp nguyên liệu, bán thành phẩm là đầu vào cho các KKT, KCN trong Vùng, hướng mạnh xuất khẩu. Bên cạnh đó, cần lựa chọn để quy hoạch 1, 2 KCN dành riêng cho các ngành công nghiệp hỗ trợ; thu hút các các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư sản xuất. Nghiên cứu xin Trung ương chính sách và cơ chế đặc biệt ưu đãi để thu hút các đối tác có thế mạnh về công nghiệp hỗ trợ như Nhật Bản, Hàn Quốc vào đầu tư, tạo bước đột phá trong việc phát triển công nghiệp hỗ trợ.

1.4. Xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi thu hút đầu tư thống nhất vào các KCN giữa các tỉnh/thành phố vùng duyên hải miền Trung; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và đầu tư thông qua việc đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế “một cửa” liên thông, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi…

1.5. Nâng cao năng lực quản lý và kỹ thuật về môi trường cho các cơ quan liên quan đến KCN (Ban Quản lý các KCN, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cảnh sát Môi trường) để tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý có đầy đủ nguồn lực thực hiện nhiệm vụ về bảo vệ môi trường KCN.

1.6. Tăng cường hợp tác và liên kết ngành giữa các KCN, giữa các doanh nghiệp trong KCN. Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư, đồng thời xây dựng chương trình và kế hoạch xúc tiến đầu tư thống nhất giữa các tỉnh/thành phố trong Vùng; ưu tiên trọng điểm cho một số nhà đầu tư chiến lược đối với những ngành nghề là lợi thế so sánh của các KCN trong Vùng.

1.7. Triển khai các hình thức liên kết, hợp tác giữa các KCN, giữa các doanh nghiệp trong KCN trong Vùng với nhau như: thường xuyên trao đổi kinh nghiệm trong việc thu hút đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng KCN; liên kết, hợp tác phát triển công nghiệp phụ trợ; liên kết, hợp tác các hiệp hội ngành nghề; liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, trong cùng một dây chuyền công nghệ sản xuất…

1.8. Triển khai thực hiện liên kết đào tạo nguồn nhân lực theo tinh thần cam kết tại Huế ngày 8.4.2012; từng bước hoàn thành các cơ sở dạy nghề chất lượng cao đào tạo nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho các KCN; tăng cường liên kết đào tạo nguồn nhân lực giữa các cơ sở dạy nghề với nhau và với các cơ sở đào tạo trong Vùng.

2. Đối với các địa phương trong Vùng

2.1. Trừ Thành phố Đà Nẵng, các tỉnh trong Vùng cần rà soát lại quy hoạch các KCN đặt trong mối quan hệ giữa các KCN trong KKT; các KCN độc lập; các cụm công nghiệp nhằm cân đối cung - cầu quỹ đất phát triển công nghiệp giai đoạn từ nay đến năm 2025 để ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng; cung cấp dịch vụ sản xuất công nghiệp và kêu gọi đầu tư. Việc ưu đãi đầu tư thông qua chính sách thuế và giá thuê đất là cần thiết, nhưng cũng không nên chỉ tạo lợi thế cạnh tranh bằng các chính sách này mà cần chú ý hơn về vị trí xây dựng KCN; sự hoàn thiện về kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông; cung cấp dịch vụ sản xuất; cung cấp nguồn nhân lực tốt và phải thực sự có được một nền hành chính mang tính chất phục vụ.             

2.2. Nâng cao chất lượng xây dựng kết cấu hạ tầng KCN theo hướng đồng bộ, thống nhất giữa hạ tầng kỹ thuật với tiện nghi, tiện ích công cộng phục vụ cho KCN; gắn kết cấu hạ tầng trong và ngoài các KCN, xây dựng giao thông kết nối các KCN trong Vùng; đồng thời cần tăng cường giám sát, thanh - kiểm tra việc chấp hành pháp luật về môi trường trong các KCN gắn với việc xử lý vi phạm một cách kiên quyết, dứt điểm; đồng thời xem xét điều chỉnh các chế tài để đảm bảo tính răn đe đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường.

2.3. Cần quy hoạch và tuân thủ nghiêm ngặt việc thu hút đầu tư theo quy hoạch trong các KCN theo hướng tập trung ưu tiên thu hút đầu tư các ngành nghề, lĩnh vực có hàm lượng khoa học công nghệ cao, thân thiện với môi trường, có giá trị gia tăng lớn như công nghệ thông tin, cơ điện tử, cơ khí, công nghệ sinh học… nhằm tận dụng cơ hội hợp tác phát triển trong vùng duyên hải miền Trung, liên Vùng, hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông và Hành lang kinh tế Đông - Tây.

Phát triển các KCN chuyên sâu, đẩy mạnh chuyển dịch từ công nghiệp gia công sang công nghiệp chế biến, công nghiệp chế tạo, công nghiệp phụ trợ dựa trên nguồn nguyên liệu sẵn có của các địa phương, sản phẩm đầu ra từ các doanh nghiệp tại các KCN trong vùng duyên hải miền Trung và trong cả nước.

Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng KCN, từ đó hình thành một số KCN đẳng cấp cao về thể chế, quy mô, cơ cấu ngành, trình độ công nghệ… trở thành các điểm kết nối Vùng - Quốc gia, tạo sự đột phá mạnh, sức lan tỏa rộng.

2.4. Vận dụng mô hình công tư đối tác (PPP) theo tinh thần QĐ171/2010/QĐ.TTg của Thủ tướng Chính phủ để thu hút các nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN. Sử dụng nguồn vốn ngân sách như là “vốn mồi” cho mô hình PPP để thu hút các nhà đầu tư tư nhân thực hiện việc xây dựng nhà ở cho người lao động và xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (nhà trẻ, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, bưu điện, chợ...) phục vụ các KCN, cải thiện điều kiện sống và tiếp cận dịch vụ xã hội của người lao động và dân cư ở những địa bàn có ảnh hưởng của dự án.

2.5. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế và mô hình quản lý các KCN; cần làm rõ hơn chức năng; nhiệm vụ của Ban quản lý các KCN; các cơ quan quản lý hành chính nhà nước của địa phương có liên quan; các doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng KCN  đối với toàn bộ quá trình từ khâu quy hoạch, thu hút đầu tư; xây dựng, vận hành KCN. Cơ chế “một cửa” đối với nhà đầu tư phải được thực hiện một cách nhất quán và xuyên suốt. Việc kiện toàn Ban quản lý các KCN cần có sự đột phá về chất lượng của đội ngũ cán bộ kèm theo chính sách đãi ngộ tương xứng.

3. Đối với Chính phủ:

3.1. Chính phủ giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cùng với các địa phương trong Vùng tiến hành rà soát lại quy hoạch bố trí lực lượng sản xuất nói chung và các KCN nói riêng trên quy mô toàn Vùng dựa trên cơ sở liên kết phát triển Vùng để làm cơ sở phân bố nguồn lực và ban hành chính sách thu hút đầu tư. Chính phủ cần lựa chọn vùng duyên hải miền Trung làm trọng điểm để triển khai chiến lược kinh tế biển theo tinh thần Nghị quyết của Đảng. Việc quy hoạch xây dựng các KKT, KCN trên địa bàn này phải là một phần cấu thành trong chiến lược kinh tế biển của quốc gia.

3.2. Nghiên cứu ban hành các cơ chế chính sách ưu đãi phát triển vùng duyên hải miền Trung, trong đó có phát triển các KCN. Trước mắt có thể cho phép để lại một phần nguồn thu NSNN từ các KCN để đầu tư phát triển trực tiếp các KCN, làm động lực phát triển ngành công nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung cho các tỉnh/thành duyên hải miền Trung - một vùng đất còn nhiều khó khăn đòi hỏi có những chính sách ưu đãi riêng biệt để sớm phát triển trở thành một vùng kinh tế năng động, đóng góp lớn hơn vào sự nghiệp phát triển đất nước.

3.3. Ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách và ODA để làm đối ứng cho các dự án PPP, trước mắt ưu tiên cho giao thông kết nối các KKT và KCN trong Vùng. Cần có một quyết tâm chính trị mạnh mẽ xây dựng sớm nhất đường bộ cao tốc nối thành phố Huế với Nha Trang. Xem đây như bước đột phá triển khai Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về xây dựng kết cấu hạ tầng. Lập tổ công tác đặc biệt nghiên cứu chính sách và cơ chế thí điểm thực hiện một số hình thức đầu tư theo mô hình PPP.

3.4. Nghiên cứu áp dụng chính sách ưu đãi đặc biệt để thu hút một số nhà đầu tư đầu đàn phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ tại một vài KCN trong Vùng...

 

(1) Báo cáo đề dẫn của Hội thảo khoa học "Kinh nghiệm thu hút đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp các tỉnh duyên hải miền Trung"

(2) Do TS. Trần Du Lịch làm Trưởng nhóm, cùng các thành viên gồm: PGS. TS. Trần Đình Thiên; PGS.TS. Bùi Tất Thắng; GS. TS.  Trương Bá Thanh; TS. Phùng Tấn Viết; TS. Nguyễn Xuân Thành và TS. Hồ Kỳ Minh…

 

Vietccr.vn

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
Tin đọc nhiều
10.729 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
5.559 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p
5.278 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
4.824 lượt xem - 14.12.2011 : 0:25p
4.780 lượt xem - 07.03.2012 : 16:47p
4.383 lượt xem - 07.03.2012 : 16:37p