8:38 11/04/2016
Cỡ chữ

THS. CAO TRÍ DŨNG

Khu vực duyên hải miền Trung trải dài từ Thừa Thiên Huế đến Bình Thuận là mảnh đất giàu tài nguyên du lịch với sự tập trung dày đặc các di sản thế giới, các giá trị về sinh thái, tài nguyên biển đảo, văn hóa, lịch sử cách mạng... Cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng và dịch vụ phục vụ du khách ngày càng được tăng cường và hoàn thiện, khu vực duyên hải miền Trung đã và đang hình thành nhiều sản phẩm du lịch đặc sắc hấp dẫn du khách. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua lượng khách đến với khu vực này còn khiêm tốn so với tiềm năng, tính mùa vụ còn rất rõ nét, chưa hình thành các nguồn khách chính một cách bền vững, chưa khai thác tốt lợi thế vùng miền, chưa phối hợp xúc tiến, quảng bá một cách hiệu quả..., Một trong những nguyên nhân của hạn chế trên chính là sự liên kết giữa các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp với nhau chưa tốt, chưa tạo được nhiều sản phẩm chung, định vị nguồn khách chung và tìm được tiếng nói chung cho hoạt động xúc tiến. Nhu cầu hợp tác liên kết càng trở nên bức thiết khi chúng ta đang từng bước hội nhập sâu vào một ASEAN thống nhất và yêu cầu của quá trình tái cơ cấu chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong chừng mực nào đó, bài viết này sẽ cố gắng giải quyết những vấn đề nêu trên.

  1. 1.                  Sức hấp dẫn và tiềm năng của điểm đến  

Có thể khẳng định khu vực duyên hải miền Trung hội đủ những điều kiện về tài nguyên du lịch, vị trí địa lý, hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở dịch vụ phục vụ khách để có thể trở thành một vùng du lịch phát triển trong nước và khu vực Đông Nam Á. Cụ thể là:

* Hệ thống tài nguyên du lịch:

+ Rất nhiều bãi biển và vịnh biển đẹp trên suốt dọc khu vực duyên hải miền Trung như: Thuận An, Lăng Cô, Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Ghềnh Ráng, Dốc Lếch, Nha Trang, Văn Phong, Ninh Chữ, Vĩnh Hy, Vũng Rô, Mũi Né..., phù hợp cho loại hình du lịch nghỉ biển, thể thao, giải trí trên biển, cắm trại, team-building...

+ Nhiều đảo, bán đảo gần bờ có cảnh quan đẹp như: Đảo Ngọc, Sơn Trà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Hòn Khô, Hòn Mun, Hòn Tre, Bình Hưng, Phú Quý..., rất thuận lợi cho việc khai thác các tour du lịch trong ngày, tour lặn biển, ngắm san hô, câu cá, các trò chơi trên biển...

+ Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú: di tích cố đô Huế, Nhã nhạc Cung đình Huế, Phố cổ Hội an, Thánh địa Mỹ sơn, các di tích đền tháp Champa..., hình thành nên Con đường di sản miền Trung, Hành trình di sản miền Trung... rất nổi tiếng và có sức hấp dẫn lớn đối với du khách.

+ Các giá trị sinh thái rừng, núi, đầm phá... như: Bạch Mã, Tam Giang, Hải Vân,  Bà Nà, Thiên Bút, Đá Bia,... là những điểm có phong cảnh thiên nhiên đẹp, khí hậu mát mẻ, tạo nên các sản phẩm nghỉ dưỡng, thư giãn, vui chơi giải trí hết sức phong phú.

+ Các di tích lịch sử, các giá trị văn hóa truyền thống, các làng nghề thủ công mỹ nghệ, ẩm thực địa phương... tạo nên sự đa dạng cho các sản phẩm điểm đến.

*  Vị trí địa lý, hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở dịch vụ phục vụ khách:

+ Khu vực duyên hải miền Trung nằm ở một trong những vùng phát triển du lịch năng động nhất thế giới, thuận lợi cho việc tiếp cận các nguồn khách lớn nằm trong bán kính bay 5 - 6 giờ, có lợi thế hơn hẳn khi so sánh với các trung tâm du lịch trong khu vực như Bali, Phuket, Koh Samui… Tuy nhiên, khu vực này cũng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố thời tiết tạo ra tính mùa vụ trong phục vụ khách du lịch một cách rõ nét.

+ Cơ sở hạ tầng giao thông khá thuận lợi cho việc khai thác khách. Cả khu vực có 3 sân bay quốc tế là Phú Bài, Đà Nẵng và Cam Ranh, 2 sân bay quốc nội là Phù Cát và Tuy Hòa, hệ thống đường sắt Bắc Nam dọc theo chiều dài các tỉnh, hệ thống đường bộ khá hoàn chỉnh và 4 cảng biển quốc tế phù hợp cho nguồn khách du lịch tàu biển (Chân Mây, Tiên Sa, Quy Nhơn, Nha Trang).

+ Hầu hết các thương hiệu khách sạn lớn trong nước và Quốc tế đã xuất hiện ở khu vực này như: Accor, IHG, Hyatt, Hilton, Sheraton, Bayan Tree, GSH, Best Western, Vinpearl, Victoria, Sunrise, H&K..., tạo nên một sức hút lớn đối với du khách và nâng cao chất lượng cũng như marketing điểm đến.

+ Hệ thống các nhà hàng, điểm tham quan, điểm mua sắm, điểm dừng trên đường đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu của du khách.

+ Các dịch vụ bổ sung bên ngoài khách sạn, các dịch vụ giải trí về đêm như: trò chơi trên biển, lặn biển, bar, vũ trường, karaoke, các show diễn về đêm, du thuyền trên sông... đang ngày càng được tăng cường và hoàn thiện.

  1. 2.  Đề xuất mô hình liên kết trong quá trình tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Các lý thuyết khoa học đã chứng minh hợp tác công tư và hợp tác giữa các khu vực đồng cấp với nhau được xem là một trong những điều kiện cần thiết để nâng cao lợi thế cạnh tranh của toàn khu vực. Wood và Gray (1992) định nghĩa hợp tác trong phát triển du lịch là dạng các hoạt động tình nguyện chung, trong đó các bên liên quan tham gia vào quá trình tương tác thông qua các quy định, điều luật, và cấu trúc chung, nhằm quyết định và có hành động giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch trong khu vực. Để phân tích vai trò của hợp tác trong phát triển du lịch, nhiều lý thuyết đã được nghiên cứu phát triển, trở thành những lý thuyết kinh điển làm nền tảng để cho ra đời những chính sách và chiến lược liên kết phát triển du lịch.

Lý thuyết trò chơi, mà nền tảng ứng dụng là mạng giá trị (Net value) là một trong những lý thuyết cụ thể nhất giải thích hành vi hợp tác (Beritelli, 2011). Lý thuyết mạng giá trị được phát triển bởi Adam Brandenburger and Barry Nalebuff vào khoảng giữa những năm 1990, trong đó chỉ ra quá trình tạo ra giá trị trong thị trường cần đến sự tương tác giữa 4 yếu tố: khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp và người bổ trợ.

Ở góc độ các doanh nghiệp đang khai thác khách du lịch đến khu vực duyên hải miền Trung thì khách hàng chính là nguồn khách đến tham quan du lịch; nhà cung cấp là các đơn vị cung ứng dịch vụ trong khu vực (khách sạn, nhà hàng, điểm tham quan, mua sắm, giải trí...); các công ty cùng khai thác khách đến khu vực này sẽ là người bổ trợ khi cùng nhau xác định sản phẩm, thị trường và chia sẻ nguồn lực để triển khai hoạt động xúc tiến, và sẽ là đối thủ canh tranh khi nguồn khách đã chọn khu vực duyên hải miền Trung là điểm đến du lịch.

Mô hình này càng có ý nghĩa trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang trong quá trình tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du lịch, hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước đã chuyển sang hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn mà trong đó tỷ trọng vốn nắm giữ của Nhà nước gần như không còn hoặc còn rất ít. Bên cạnh đó việc chuyển từ mô hình theo chiều rộng sang mô hình theo chiều sâu buộc các địa phương và doanh nghiệp chuyển trọng tâm khai thác vào các nguồn khách trọng điểm. Điều này đã khiến cho hoạt động của doanh nghiệp trở nên linh hoạt hơn, khả năng hợp tác tốt hơn, bình đẳng hơn và sự liên kết phối hợp nguồn lực là tất yếu khi mà việc khai thác các nguồn khách lớn cần có sự chung tay góp sức của cộng đồng doanh nghiệp.

  Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế sẽ làm gia tăng vai trò định hướng, quản lý, kiểm tra, giám sát, hỗ trợ doanh nghiệp của Nhà nước, và như vậy việc ứng dụng mạng giá trị trong mô hình hợp tác công tư càng trở nên rõ nét hơn. Trong đó vai trò của công ty sẽ được đổi thành Cơ quan xúc tiến du lịch địa phương, khách hàng và nhà cung cấp vẫn giữ như cũ, trong khi đối thủ cạnh tranh và người bổ trợ sẽ chính là các Cơ quan xúc tiến của các địa phương khác, sẽ là người bổ trợ khi cùng hợp tác khai thác khách đến với khu vực và sẽ là đối thủ cạnh tranh khi khách hàng lựa chọn một điểm đến cụ thể. Trong bối cảnh nguồn lực xúc tiến của từng địa phương còn rất nhỏ bé thì việc hợp tác theo mô hình này sẽ giúp tiết kiệm chi phí và đem lại hiệu quả khai thác cao hơn rất nhiều.

Theo luận điểm chính của tác giả thì cạnh tranh và hợp tác cùng tồn tại với nhau: hợp tác với đối thủ cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển của thị trường, đồng thời cạnh tranh với đối thủ để đối đa hóa thị phần và lợi ích. Mô hình này càng có giá trị và phù hợp khi sản phẩm được hình thành cho khu vực duyên hải miền Trung sẽ kết nối với khu vực khác trong cả nước và khu vực Đông Nam Á tạo thành các sản phẩm liên tuyến, liên quốc gia; cần có sự phối hợp của nhiều nguồn lực, trong đó có các cơ quan xúc tiến du lịch quốc gia và địa phương, các công ty lữ hành và đơn vị cung ứng dịch vụ đang khai thác sản phẩm trên tuyến để triển khai các hoạt động xúc tiến vào các thị trường lớn, nơi mà các hoạt động đơn lẻ gần như không mang lại hiệu quả.

Như vậy có thể thấy mô hình mạng giá trị là rất phù hợp trong bối cảnh liên kết nhiều địa phương để cùng khai thác các nguồn khách cụ thể. Cách tiếp cận này càng có giá trị trong quá trình tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đặc biệt cho phát triển du lịch ở vùng duyên hải miền Trung. Việc liên kết theo mô hình này về cơ bản sẽ được thực hiện trên 3 nội dung: liên kết trong xác định thị trường khách trọng điểm, liên kết trong xây dựng sản phẩm chung và liên kết trong công tác quảng bá xúc tiến.

 3. Liên kết trong xác định các thị trường khách trọng điểm

Mỗi địa phương trong khu vực đều đã có những nghiên cứu để xác định nguồn khách tiềm năng dựa trên đặc điểm và lợi thế của mình, sau đó sẽ triển khai các hoạt động xúc tiến. Để có thể tăng cường khả năng hợp tác nhắm đến các thị trường chung, sản phẩm chung và chia sẻ nguồn lực xúc tiến thì tất yếu các địa phương phải liên kết với nhau trong xác định các thị trường khách trọng điểm. Với vị trí địa  lý, hệ thống tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở dịch vụ phục vụ khách như đã nêu ở trên, có thể đề xuất các nguồn khách trọng điểm đến khu vực duyên hải miền Trung theo thứ tự ưu tiên như sau:

* Nguồn khách trong nước: Đây có thể coi là nguồn khách cơ bản nhất đến với khu vực duyên hải miền Trung, tập trung vào 3 khu vực chính:

            Hà Nội và các tỉnh phía Bắc

            Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam

            Nguồn khách nội vùng và các tỉnh Tây Nguyên

Với mức độ phù hợp ngày càng cao của điểm đến, đặc biệt là khu vực Đà Nẵng - Hội An - Huế và Nha Trang - Mũi Né, nguồn khách trong nước sẽ phát triển hết sức sôi động, trên cả các nguồn khách du lịch thuần túy, du lịch MICE, du lịch theo chủ đề... và bằng cả đường hàng không, đường sắt và đường bộ. Nguồn khách này tập trung cao điểm vào mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9 và thấp điểm vào mùa đông từ tháng 10 đến tháng 12. Chính vì vậy, các nỗ lực xúc tiến phải làm sao hạn chế được tính mùa vụ này.

* Nguồn khách quốc tế đến bằng các đường bay trực tiếp: Đây là nguồn khách cơ bản cho việc phát triển bền vững các nguồn khách quốc tế cũng như là một trong những giải pháp chính hạn chế tính mùa vụ của khu vực duyên hải miền Trung, chủ yếu tập trung vào sân bay Đà Nẵng và Cam Ranh, sau đó mở rộng chương trình tham quan ra toàn vùng.

Với các đường bay quốc tế hiện tại và khả năng phát triển đường bay trong tương lai, có thể xác định các thị trường khách quốc tế bay trực tiếp đến khu vực duyên hải miền Trung bao gồm:

            Thị trường Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan

            Thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản

            Thị trường Nga và một số nước Đông Âu

            Thị trường các nước Đông Nam Á (Singapore, Malaysia, Thái Lan)

            Thị trường Bắc Âu

* Nguồn khách quốc tế đến bằng các đường bay nội địa (chủ yếu là từ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh): Đây vẫn là nguồn khách quan trọng trong cơ cấu nguồn khách đến khu vực duyên hải miền Trung và Tây nguyên, chủ yếu tập trung ở khu vực Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam và Nha Trang, Mũi Né. Nguồn khách này thường là tham gia các chương trình dài ngày, đến cả ba miền Bắc - Trung - Nam. Chủ yếu tập trung vào một số quốc tịch:

            Thị trường Tây Âu: Pháp, Đức, Anh, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ....

            Thị trường Úc, Newzeland

            Thị trường Mỹ, Canada

            Thị trường Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan

            Thị trường Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia...

* Nguồn khách đến bằng đường bộ qua các cửa khẩu quốc tế: Đây cũng là nguồn khách cơ bản và có khả năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai, khi có một ASEAN thống nhất và hệ thống đường bộ cao tốc giữa các nước được hình thành một cách đồng bộ, các sản phẩm liên tuyến, liên quốc gia được hình thành một cách phổ biến nối khu vực duyên hải miền Trung với Hành lang kinh tế Đông Tây & tuyến đường xuyên Á, cho cả 2 loại hình là khách sử dụng xe của các công ty du lịch và khách sử dụng xe tự lái (Caravan), bao gồm các nguồn khách sau:

            Thị trường khách Thái Lan

            Thị trường khách Lào

            Thị trường khách Campuchia

            Thị trường khách Singapore, Malaysia

            Thị trường khách châu Âu, Úc

* Nguồn khách đến bằng tàu biển: Mỗi năm, khu vực duyên hải miền Trung đón gần 100 chuyến tàu biển du lịch đến các cảng Chân Mây (Thừa Thiên Huế), Tiên Sa (Đà Nẵng) và Nha Trang (Khánh Hòa). Nguồn khách này đang có xu hướng tăng rất nhanh khi mà các hãng tàu biển lớn đang hướng sự quan tâm đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương và nguồn khách tham gia các chương trình du lịch tàu biển ngày càng đa dạng, bao gồm:

            Thị trường châu Âu, Úc, Mỹ

            Thị trường Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc)

            Thị trường Đông Nam Á (Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia)

* Nguồn khách đến bằng đường bộ, tàu hỏa nội địa: Nguồn khách này chiếm tỷ trọng không quá lớn, chỉ tập trung vào thị trường khách thu nhập trung bình và thấp, nguồn khách du lịch ba lô, chủ yếu tập trung ở thị trường khách Tây Âu, Úc...

4. Liên kết trong xây dựng các sản phẩm chung

Theo nghiên cứu mới nhất của nhóm chuyên gia dự án EU thì trình tự liên kết xây dựng sản phẩm du lịch chung cho điểm đến gồm các bước:

+ Cơ quan quản lý Nhà nước của mỗi địa phương đề xuất nhóm các sản phẩm ưu tiên của địa phương mình.

+ Tổ chức họp kỹ thuật giữa các địa phương gồm cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan xúc tiến du lịch địa phương và cộng đồng doanh nghiệp để lấy ý kiến tìm ra các sản phẩm cốt lõi, các sản phẩm có khả năng liên kết bằng phương pháp định lượng.

+ Nhóm gộp các sản phẩm có cùng chủ đề thành các cụm sản phẩm (cluster) hay tuyến sản phẩm (route) chung cho cả khu vực duyên hải miền Trung.

+ Phân tích những thiếu hụt (Gaps) và đề xuất các biện pháp khắc phục đề sản phẩm có thể được khai thác một cách bền vững.

Với trình tự như vậy, có thể đề xuất các sản phẩm chung cho khu vực duyên hải miền Trung thành 3 nhóm chính theo thứ tự ưu tiên như sau:

+ Nhóm Thiên đường biển đảo (Central Coast Paradise) gồm các cụm:

                                    . Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam

                        . Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa

                        . Khánh Hòa - Ninh Thuận - Bình Thuận

+ Nhóm Con đường di sản (World Heritage Road) kết nối với Tây Nguyên (Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên)

+ Nhóm Con đường sinh thái (Nature trail) và du lịch cộng đồng (Community Based Tourism), là sự kết nối các tài nguyên du lịch sinh thái và văn hóa cộng đồng cư dân bản địa của khu vực duyên hải miền Trung với đại ngàn Tây nguyên.

5. Liên kết trong công tác quảng bá, xúc tiến

Việc liên kết giữa các địa phương trong hoạt động quảng bá xúc tiến có lẽ là hoạt động có ý nghĩa nhất khi đã xác định được các sản phẩm chung và các địa phương có thể phối hợp các nguồn lực riêng lẻ thành nguồn lực xúc tiến chung cho cả khu vực. Các hướng đề xuất liên kết như sau:

* Hình thức quảng bá, xúc tiến và các thị trường, sự kiện tương ứng

+ Quảng bá, xúc tiến thông qua các hội chợ du lịch, bao gồm:

            Tại Việt Nam: VITM, ITE và các hội chợ tại các địa phương

            Đông Nam Á: ATF, TTM, MATTA, NATAS, ITB Aisa, TTC

            Đông Bắc Á: JATA, KOFA, CITM, ITE Hong Kong

            Châu Âu : ITB, WTM, MITT

            Hội chợ du lịch tàu biển: Miami

+ Tổ chức chương trình giới thiệu sản phẩm tại các thị trường trọng điểm như:

            Trong nước: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ…

            Nước ngoài: Trung quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, Thái Lan, Malaysia, Singapore…

+ Mời các đoàn famtrip, presstrip từ các thị trường trọng điểm đến khảo sát và đưa tin về điểm đến.

+ Quảng bá thông tin, hình ảnh, sản phẩm đặc thù của khu vực duyên hải miền Trung trên các phương tiện truyền thông đại chúng nước ngoài (báo chí, truyền hình), qua các văn phòng đại diện, các cơ quan ngoại giao, các website giới thiệu điểm đến.

+ Tổ chức các sự kiện chuyên đề để giới thiệu điểm đến: Festival Huế, Festival di sản Hội An, Cuộc thi pháo hoa quốc tế Đà Nẵng, Festival biển Nha Trang, Mũi Né...

+ Luân phiên tổ chức hội chợ du lịch chuyên đề tại khu vực duyên hải miền Trung

* Sự phối hợp giữa các bên trong công tác quảng bá, xúc tiến: Để đạt được mục tiêu đặt ra cho công tác quảng bá xúc tiến, cần có sự quyết tâm cao của lãnh đạo các địa phương khu vực duyên hải miền Trung, Tổng cục Du lịch, các cơ quan xúc tiến du lịch địa phương, các hãng vận chuyển, các công ty lữ hành và hệ thống cung ứng dịch vụ. Cụ thể:

+ Về phía Tổng cục Du lịch: Chủ trì các hoạt động xúc tiến mang tầm quốc gia tại các sự kiện, hội chợ du lịch, tổ chức các đoàn khảo sát từ các thị trường lớn, trong đó có giới thiệu các sản phẩm du lịch của khu vực duyên hải miền Trung, có các doanh nghiệp miền Trung tham gia. Bên cạnh đó, đề xuất Tổng cục Du lịch phân bổ ngân sách xúc tiến nhiều hơn cho khu vực này. Hỗ trợ các địa phương trong việc tổ chức các hội chợ, hội nghị, hội thảo chuyên đề.

+ Về phía lãnh đạo các địa phương khu vực duyên hải miền Trung: Quan tâm và đầu tư thích đáng cho hoạt động xúc tiến du lịch địa phương, tạo ra các liên kết vùng để phối hợp sản phẩm và các nguồn lực xúc tiến. Có sự hỗ trợ mạnh mẽ cho cơ quan xúc tiến du lịch địa phương, các doanh nghiệp trong công tác quảng bá thu hút khách và giới thiệu điểm đến, đặc biệt là có chính sách hỗ trợ cho các đường bay quốc tế trực tiếp.

+ Về phía các trung tâm xúc tiến du lịch địa phương: Làm đầu mối cho các hoạt động xúc tiến, quảng bá, giới thiệu sản phẩm của từng địa phương cũng như liên kết các địa phương trong vùng. Trên cơ sở các thị trường trọng tâm và sản phẩm chung đã được xác định, trung tâm xúc tiến du lịch địa phương chủ động lên kế hoạch phối hợp với các đơn vị liên quan để có kế hoạch xúc tiến dài hạn.

+ Về phía các hãng hàng không, đặc biệt là Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam - Vietnam Airlines: Giúp giới thiệu hình ảnh khu vực duyên hải miền Trung tại các văn phòng trên khắp thế giới. Hỗ trợ các địa phương và doanh nghiệp khu vực này tham gia vào các hội chợ du lịch quốc tế, mời các đoàn famtrip, presstrip từ các thị trường tiềm năng để giới thiệu điểm đến. Phối hợp với các doanh nghiệp địa phương trong việc tạo ra các chương trình kích cầu thu hút khách hàng.

+ Về phía các công ty lữ hành: Tích cực tham gia vào các chương trình xúc tiến của Tổng cục Du lịch cũng như của địa phương. Kết nối các đơn vị liên quan trong các chương trình xúc tiến điểm đến cũng như cụ thể hóa các sản phẩm chung, sản phẩm kích cầu giới thiệu đến khách hàng. Thông qua các đối tác lữ hành nước ngoài để chuyển các thông tin về khu vực này đến các khách hàng tiềm năng.

+ Về phía hệ thống cung ứng dịch vụ: Chủ động đề xuất và tham gia vào các chương trình xúc tiến điểm đến dưới nhiều hình thức. Hỗ trợ tài chính cho các hoạt động xúc tiến. Hình thành các nhóm marketing điểm đến để phối hợp các nguồn lực thu hút khách từ các thị trường chính, các thị trường khách phù hợp với đặc điểm địa phương (như mô hình của nhóm CCV tại Huế - Đà Nẵng - Hội An). Hỗ trợ cho việc mở đường bay trực tiếp, đón tiếp các đoàn khảo sát...                              

Tóm lại, với rất nhiều tiềm năng và lợi thế, du lịch vùng duyên hải miền Trung đang đứng trước cơ hội rất lớn để phát triển thành những trung tâm du lịch biển của khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực trong quá trình tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cần có sự liên kết chặt chẽ trong cộng đồng doanh nghiệp, giữa cộng đồng doanh nghiệp với cơ quan quản lý Nhà nước và giữa các địa phương với nhau theo mô hình mạng giá trị để có thể tận dụng tối đa nguồn lực, cùng hợp tác phát triển.

                                                                        TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu nước ngoài:

  1. Von Neumann, John; Morgenstern, Oskar. 1944. Theory of games and economic behavior. Princeton University Press
  2. A.M. Bradenburger; B.J. Nalebuff. 1998. Lý thuyết trò chơi trong kinh doanh. Hà Nội: Tri thức.
  3. Axelrod, R.,& Hamilton, W. D. 1981. The Evolution of Cooperation. Science, 211(4489), 1390-1396.
  4. Donaldson, B., & O’Toole, T. 2000. Classifying relationship structures: Relationship strength in industrial markets. Journal of Business & Industrial Marketing, 15(7), 491-506.
  5. Fagence, M. 1991: Rural tourism and the small country town, Tourism Recreation Research, 16(1), 34-43.
  6. Granovetter, M. S. 1985. Economic Action and Social Structure: The problem of embeddedness. American Journal of Sociology, 91, 481-510.
  7. Gunn, C.A. 1979. Tourism Planning: Basics, Concepts, and Cases, New York: Crane, Russak.
  8. Kim. N.,&Wicks, B. E. (2010).Rethinking Tourism Cluster Development Models for Global Competitiveness.International CHRIE Conference-Refereed Track.Paper 28.

Tài liệu trong nước:

  1. GS.TS. Lê Thế Giới, TS. Nguyễn Thanh Liêm, Ths. Trần Hữu Hải. 2009. Quản trị chiến lược. Hà Nội: Dân Trí.
  2. TS. Nguyễn Thanh Liêm, Ths. Hồ Tấn Tuyến. 2013. Tiếp cận các mô hình liên kết trong nền kinh tế toàn cầu.
  3. TS. Nguyễn Xuân Lãn, Nguyễn Hữu Nam Phúc. 2013. Vai trò của mạng giá trị và lý thuyết trò chơi trong cạnh tranh.
  4. Ths. Cao Trí Dũng. “Liên kết phát triển loại hình du lịch đường bộ qua các cửa khẩu miền Trung”. Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng.

Ths. Cao Trí Dũng, Ths. Don Taylor. Nghiên cứu đề xuất hệ thống sản phẩm chung cho điểm đến Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam. Dự án EU 2015.

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
Tin đọc nhiều
47.905 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
23.514 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
22.341 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
21.281 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
18.315 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
15.967 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p