14:23 08/04/2016
Cỡ chữ

Lê Thanh Quang 

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa, Trưởng Ban Điều phối vùng duyên hải
miền Trung

Vùng duyên hải miền Trung là địa bàn chiến lược trong chiến lược kinh tế biển của nước ta; một địa bàn giàu tiềm năng, nhưng cũng chịu nhiều thiên tai và thách thức trong quá trình phát triển, nên đến nay nhìn chung vẫn là vùng có đời sống kinh tế và xã hội khó khăn. Trong 30 năm qua, từ khi thực hiện sự nghiệp đổi mới, các địa phương trong vùng đã có nhiều nỗ lực, năng động phát triển làm thay đổi đáng kể đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, do sự thiếu liên kết trong phát triển và còn nặng tư duy kinh tế tỉnh nên nguồn lực bị phân tán, chưa phát huy hết thế mạnh về tiềm năng và đứng trước những bất cập về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân  lực và mô hình phát triển. Lãnh đạo các địa phương trong vùng đã nhận thức được tính tất yếu phải hợp tác và liên kết phát triển ở quy mô vùng và đã tự hình thành cơ chế hợp tác song song với cơ chế vùng do Chính phủ thành lập. Do đó thực tế đang đòi hỏi phải có một cơ chế chung về liên kết hợp tác phát triển vùng dưới sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ và chính sách hỗ trợ của Trung ương về nguồn lực và cơ chế ưu đãi đầu tư để vùng duyên hải miền Trung thực sự trở thành vùng kinh tế động lực của cả nước. 


I. Tổng quan về vùng duyên hải miền trung

1. Đặc điểm kinh tế - xã hội

Vùng duyên hải miền Trung với diện tích hơn 49.400 km2, cùng 10,2 triệu người (tương ứng với 14,9% diện tích và 11,36% dân số cả nước) bao gồm 05 tỉnh/thành phố thuộc Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) và 04 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ.

Vùng có vị thế kinh tế thuận lợi, có ý nghĩa chiến lược về giao lưu kinh tế Bắc - Nam và Đông - Tây: Là dải đất hẹp, ngang nằm ở vị trí trung độ của các trục giao thông chính Bắc - Nam cả về đường bộ, đường sắt và đường hàng không, có các cảng biển Đà Nẵng, Quy Nhơn, Vân Phong… kết nối với tuyến hàng hải quốc tế, là cửa ngỏ ra biển của Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Đông Bắc Thái Lan và Myanmar.

Kinh tế của vùng đang phát triển với tốc độ khá nhanh. Tổng sản phẩm nội địa (GDP) năm 2014, tính theo giá hiện hành, của vùng là 397.858,6 tỷ, chiếm 10,1% so với GDP của cả nước. Hầu hết các tỉnh đều có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 8%/năm trong giai đoạn 2011 - 2014, cao hơn nhiều so với mức bình quân cả nước (5,5%/năm). Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên 841 dự án, với tổng số vốn 2326,5 tỷ USD. Tuy nhiên, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn chỉ chiếm 13,25% và tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn chiếm 3,69% so với cả nước.

    Cơ sở hạ tầng của hầu hết các địa phương đều được đầu tư khá đầu đủ với 6 sân bay được nâng cấp mở rộng (trong đó có 2 cảng hàng không quốc tế), 13 cảng biển (trong đó có 7 cảng biển loại I), 14 tuyến đường quốc lộ, đường sắt Bắc - Nam chạy qua, phân bổ đều khắp ở các địa phương, nối liền các đô thị, các khu kinh tế, khu công nghiệp trong vùng.

Nhiều khu kinh tế, khu công nghiệp được xây dựng và đi vào hoạt động. Vùng hiện có 6 khu kinh tế và 54 khu công nghiệp (bao gồm cả KCN trong các KKT) với tổng diện tích đất tự nhiên là hơn 19.537 ha. Trong đó có 32 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, diện tích đất đã cho thuê là 2.835 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 41,37%. 

2. Tiềm năng và thế mạnh của vùng

Ngoài vị trí địa lý thuận lợi, vùng còn là “mặt tiền” nhìn ra Biển Đông của Việt Nam, có ưu thế quan trọng trong phát triển kinh tế biển.

- Có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia, quốc tế. Trên địa bàn vùng còn có 04 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận[1] và nhiều vịnh, đảo, các khu bảo tồn thiên nhiên, bãi tắm đẹp… Đây là điều kiện lý tưởng để phát triển ngành du lịch.

- Là vùng thuận lợi cho việc phát triển các ngành khai thác, nuôi trồng và chế biến, xuất khẩu thủy sản; có đội ngũ ngư dân có truyền thống đánh bắt hải sản đông đảo.

- Thuận lợi cho việc phát triển những ngành nghề kinh doanh bất động sản, các khu nghỉ dưỡng các biệt thự cao cấp ven biển… Một chuỗi đô thị ven biển cũng đang hình thành như: Chân Mây - Lăng Cô, Đà Nẵng, Hội An, Vạn Tường, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, Phan Thiết là cơ sở quan trọng để thiết lập và mở rộng các liên kết kinh tế giữa các địa phương trong vùng.

3. Khó khăn

- Xuất phát điểm nền kinh tế của các địa phương thấp, tích lũy đầu tư nhỏ trong khi tiềm năng, thế mạnh khá tương đồng (biển, du lịch, cảng biển, sân bay, khu kinh tế, nguồn nhân lực dồi dào…); các ngành kinh tế chủ lực tại các khu kinh tế, khu công nghiệp của các địa phương có sự trùng lắp nên dẫn đến tình trạng phân tán nguồn lực đầu tư (cả nhà nước lẫn tư nhân), hiệu quả đạt được không cao.

- Suất đầu tư hạ tầng khá cao tuy nhiên vùng vẫn chưa có hệ thống giao thông đường bộ hiện đại, nhất là các tuyến đường cao tốc đáp ứng yêu cầu phát triển.

- Phần lớn các địa phương đều có tư duy phát triển dàn trải dựa trên tiềm năng, thế mạnh của mình. Mặt khác, các ngành kinh tế chủ lực của các tỉnh có cơ cấu ngành, sản phẩm khá trùng lắp, thiếu các ngành công nghiệp, dịch vụ phụ trợ.

4. Cơ hội để phát triển

- Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, môi trường quốc tế thuận lợi là cơ hội để phát huy vị trí và vai trò của các tỉnh, thành phố duyên hải miền Trung trong quá trình CNH, HĐH đất nước; đặc biệt các quốc gia có tiềm năng kinh tế biển đang là lợi thế trong cạnh tranh toàn cầu. Việt Nam nói chung, miền Trung nói riêng đang được các nhà đầu tư nước ngoài tăng cường quan tâm, khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào miền Trung ngày càng lớn.

- Một số công trình đầu tư lớn, công trình trọng điểm được đầu tư vào miền Trung và bắt đầu đi vào khai thác, hoạt động. Kinh tế tri thức đang phát triển, miền Trung có thể tăng tốc phát triển trên cơ sở đẩy nhanh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển mạnh khoa học công nghệ…

5. Thách thức

- Lãnh thổ trải rộng và địa hình phức tạp đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư phát triển khá lớn hoặc chương trình đầu tư chiến lược có trọng điểm vào các điểm nút phát triển của vùng.

- Trong vùng chỉ có một số đô thị tương đối phát triển là Huế, Đà Nẵng và Nha Trang nhưng chủ yếu vẫn là các đô thị dịch vụ và thương mại, công nghiệp phát triển chậm, chưa có sức hút mạnh đối với các dòng hàng hóa và lao động từ các khu vực khác trong vùng và ngoài vùng.

- Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo hoặc có tay nghề thấp còn lớn; lao động trong lĩnh vực nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ cao.

- Chưa có nhiều sản phẩm chủ lực, thương hiệu sản phẩm đặc trưng của vùng, ngoại trừ một số điểm du lịch có thương hiệu nhưng chưa có tác dụng lan tỏa.

- Thiên tai, dịch bệnh xảy ra thường xuyên; tác động của sự biến đổi khí hậu và vấn đề ô nhiễm môi trường cũng đang là những thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của vùng.  

II. Khái quát quá trình hình thành liên kết phát triển vùng duyên hải miền Trung và Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung

Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung được thành lập vào tháng 7.2011 tại thành phố Đà Nẵng trên cơ sở sáng kiến và tinh thần tự nguyên của lãnh đạo chủ chốt 07 tỉnh, thành phố (bao gồm: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa) đã đồng thuận và thống nhất thực hiện Biên bản cam kết Liên kết phát triển vùng duyên hải miền Trung nhân dịp Hội thảo khoa học: “Liên kết phát triển các tỉnh duyên hải miền Trung”  được tổ chức vào ngày 15 thánh 7 năm 2011, tại thành phố Đà Nẵng. Đến tháng 8 năm 2012, bổ sung thêm 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận vào hợp tác phát triển vùng duyên hải miền Trung. Ban điều phối đi vào hoạt động với:

1. Quan điểm, mục tiêu và nội dung liên kết

a. Quan điểm

- Liên kết bình đẳng, các bên cùng có lợi trên cơ sở khai thác và phát huy tiềm năng và thế mạnh, đặc thù của từng địa phương và toàn vùng để cùng phát triển.

- Liên kết trên tinh thần tự nguyện của các địa phương, tổ chức, doanh nghiệp; có bước đi thích hợp, theo từng giai đoạn, mục tiêu cụ thể trên cơ sở lựa chọn những nội dung, lĩnh vực thiết thực, trọng điểm cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và toàn vùng.

- Nội dung liên kết được xây dựng thành các dự án, chương trình cụ thể và có mục tiêu rõ ràng, thời gian triển khai, kinh phí, đơn vị và đối tác thực hiện.

2. Mục tiêu liên kết 

- Khai thác và phát huy các tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương và toàn vùng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và phát triển bền vững. Phát triển mạnh các ngành công nghiệp và dịch vụ, trong đó đặc biệt chú trọng phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, có tầm cỡ khu vực và quốc tế; ưu tiên phát triển kinh tế biển (hạ tầng cảng biển, dịch vụ hàng hải, phát triển đội tàu đánh bắt xa bờ, chế biến và xuất khẩu thủy hải sản), góp phần tạo việc làm, nâng cao mức sống và trình độ dân trí cho các tầng lớp dân cư.

- Trong những năm trước mắt, ưu tiên tập trung vào một số lĩnh vực chủ yếu, có tính khả thi cao như: phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ liên tỉnh; hạ tầng và sản phẩm du lịch; kinh tế biển và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ kinh tế biển; phát triển mạnh ngành khai thác và chế biến thủy sản, cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng nhân lực phục vụ phát triển du lịch; phân công, chuyên môn hóa sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, xúc tiến thương mại, đầu tư… nhằm tạo lập không gian kinh tế thống nhất toàn vùng để cùng phát triển, tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

3. Nội dung liên kết

Bao gồm 09 nội dung liên kết hợp tác phát triển vùng:

(1) Nghiên cứu tái phân bổ lực lượng sản xuất, điều chỉnh quy hoạch phát triển phù hợp với thế mạnh của từng địa phương;

(2) Xây dựng đồng bộ hạ tầng giao thông liên tỉnh, nhất là hạ tầng giao thông đường bộ;

(3) Thiết lập không gian kinh tế du lịch vùng thống nhất;

(4) Mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực;

(5) Hợp tác huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế, chính sách để đầu tư phát triển vùng;

(6) Phối hợp xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch, quảng bá văn hóa;

(7) Nghiên cứu cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng;

(8) Xây dựng hệ thống thông tin và trao đổi thông tin kinh tế - xã hội, đầu tư trên địa bàn;

(9) Hợp tác bảo vệ môi trường, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu. Trong đó đặc biệt chú trọng liên kết xúc tiến đầu tư và phát triển du lịch.

2. Cơ cấu tổ chức, cơ chế điều phối

Nhằm phục vụ cho hoạt động liên kết hợp tác phát triển vùng duyên hải miền Trung, Ban Điều phối vùng đã thành lập 03 đơn vị:

(1) Nhóm Tư vấn hợp tác phát triển vùng duyên hải miền Trung: Là Cơ quan tham mưu cho Ban Điều phối vùng về nghiên cứu đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp, luận cứ khoa học thực hiện việc hợp tác phát triển Vùng, đề xuất cơ chế, chính sách… thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng, Nhóm Tư vấn bao gồm 07 thành viên do TS. Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban kinh tế quốc hội, Phó Trưởng đoàn Đoàn Đại biểu Quốc hội đơn vị thành phố Hồ Chí Minh làm Trưởng nhóm và một số nhà khoa học, chuyên gia trong cả nước.

(2) Quỹ Nghiên cứu phát triển miền Trung: Được hình thành từ nguồn đóng góp của các địa phương trong vùng (các địa phương có ngân sách nộp Trung ương đóng góp 500 triệu đồng/năm, còn các địa phương còn lại đóng 200 triệu đồng/năm). Đặc biệt là sự tài trợ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và sự ủng hộ từ các tổ chức, doanh nghiệp trong cả nước nhằm phục vụ kinh phí hoạt động của Ban Điều phối vùng, công tác nghiên cứu của Nhóm Tư vấn và các hoạt động chung của vùng; hiện nay đồng chí Trần Bắc Hà, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam làm Chủ tịch HĐQL Quỹ

Trưởng Nhóm Tư vấn hợp tác Phát triển vùng và Chủ tịch Hội đồng Quản lý Quỹ Nghiên cứu miền Trung đồng thời cũng là thành viên của Ban điều phối Vùng.

Bên cạnh đó còn có Trung tâm Tư vấn - Nghiên cứu Phát triển miền Trung (là cơ quan Thường trực và giúp việc Ban Điều phối vùng, Nhóm Tư vấn và Quỹ Nghiên cứu phát triển miền Trung) cùng cơ quan thường trực tại các địa phương (Sở Kế hoạch và Đầu tư) theo dõi và tổng hợp tình hình phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các hoạt động hợp tác phát triển vùng.

 


[1] Quần thể di tích cố đô Huế; Nhã nhạc cung đình Huế; Phố cổ Hội An; Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn.

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
Tin đọc nhiều
49.932 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
24.345 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
22.943 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
22.258 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
18.958 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
16.429 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p