14:30 08/04/2016
Cỡ chữ

Lê Thanh Quang

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa, Trưởng Ban Điều phối vùng duyên hải
miền Trung

3. Tình hình triển khai liên kết phát triển vùng duyên hải miền Trung 

Mặc dù theo tinh thần tự nguyện, chưa có tính ràng buộc về pháp lý. Tuy nhiên, những năm qua liên kết phát triển vùng duyên hải miền Trung đã được nhiều kết quả rất đáng ghi nhận, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương trong vùng nói riêng và cho toàn khu vực nói chung. Bước đầu đã tạo được những thay đổi trong cả nhận thức và hành động về việc hợp tác phát triển các tỉnh duyên hải miền Trung từ lãnh đạo chủ chốt của các tỉnh, thành phố, các sở, ban ngành, tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp và người dân cũng như tạo được sự tin cậy, ủng hộ từ các cơ quan, Ban ngành Trung ương, các tổ chức, các doanh nghiệp trong và ngoài nước về hợp tác phát triển vùng.

- Bước đầu đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu vùng duyên hải miền Trung (giai đoạn 1) cũng như phối hợp tổ chức khóa học “Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa trên bản đồ (ArcGis)” cho cán bộ các tỉnh/thành phố trong vùng.

- Tích cực vận động, chủ trì và phối hợp với các Ban, Bộ ngành Trung ương (Ban Kinh tế Trung ương; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn...) và các địa phương trong việc tổ chức huy động đội ngũ các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý trong và ngoài nước với nhiều lĩnh vực tham gia vào các hoạt động hội thảo, nghiên cứu liên kết phát triển du lịch vùng, địa phương; liên kết đào tạo nguồn nhân lực; liên kết phát triển hạ tầng các khu công nghiệp, liên kết thu hút đầu tư; khai thác kinh tế biển… đã thúc đẩy xúc tiến đầu tư trực tiếp từ các nhà đầu tư vào các địa phương trong vùng, gây tiếng vang trong và ngoài nước[1];

- Phối hợp nghiên cứu cơ chế, chính sách cho các tỉnh trong vùng phát triển các khu công nghiệp hỗ trợ[2];

- Phát hành các ấn phẩm về liên kết vùng và tập sách giới thiệu sản phẩm du lịch của vùng… thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp trong và ngoài nước.

   Tuy sự liên kết thực tế giữa các tỉnh theo nghĩa là sản phẩm của một quá trình chủ động vùng chưa được nhiều, mới chỉ dừng lại ở định hướng chung và một số hoạt động cụ thể tại một vài tỉnh thành, chưa thể xoay chuyển hẳn tư duy phát triển của các địa phương trong vùng song đây cũng là kết quả của quá trình liên kết tự nguyện kéo dài và trải qua không ít khó khăn, ẩn sau các thành quả du lịch, thu hút đầu tư địa phương đều có bóng dáng và sức thúc đẩy ngày càng mạnh của xu thế liên kết vùng.

Bên cạnh những kết quả đạt được, phải thừa nhận rằng, việc liên kết kinh tế giữa các tỉnh, thành phố trong vùng duyên hải miền Trung chưa thể hiện được hiệu ứng rõ nét, hiệu quả đạt được còn rất khiêm tốn. Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung chỉ mới cung cấp một hình mẫu gợi ý về thể chế phát triển vùng ở Việt Nam, chưa đủ định hình chắc chắn, được đảm bảo và hỗ trợ bằng các thể chế và chính sách chính danh quốc gia, không có thực quyền trong việc quyết định hoặc tham gia ý kiến các vấn đề liên quan mang tính liên vùng, các định hướng, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các dự án đầu tư lớn của các địa phương trong vùng. Ở đây có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, tựu chung là ở một số điểm:

- Thiếu một cơ chế pháp lý. Cho đến nay, quy chế hoạt động của Ban điều phối vùng duyên hải miền Trung chưa được thể chế hóa bằng văn bản pháp lý; các thỏa thuận đều không kèm theo điều kiện thi hành. Điều đó phần nào làm nguồn lực cho hợp tác hạn chế, Ban điều phối vùng duyên hải miền Trung không thể nào thực thi một cách “chủ động” các chương trình, kế hoạch, dự án đầu tư phát triển vùng.

- Các lợi ích địa phương cục bộ vẫn chi phối hợp tác giữa các địa phương. Với quy định của Luật Ngân sách hiện hành, dòng tài chính vẫn do các địa phương tự phân phối, tự tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư bằng cơ chế chính sách của địa phương, và hiển nhiên các địa phương đều có vị thế ngang hàng, dẫn đến chính sách “đặc thù” không còn đặc thù. Đây là thách thức không dễ vượt qua cho nỗ lực liên kết phát triển vùng duyên hải miền Trung nói riêng và các vùng kinh tế - xã hội cả nước nói chung trong bối cảnh thể chế hiện nay.

- Chưa phối hợp có hiệu quả cùng các Ban, Bộ ngành Trung ương trình Trung ương, Quốc hội, Chính phủ để ban hành và triển khai các chủ trương, thể chế chính sách kinh tế vùng, liên kết vùng.

Hệ quả là các hoạt động liên kết, phối hợp chuyên ngành chưa được cụ thể hóa, còn mang tính hình thức trong khuôn khổ hợp tác phát triển; sự thiếu thống nhất về thể chế chính sách, thu hút đầu tư, phân bổ nguồn lực, thiết lập hạ tầng dùng chung, liên kết phụ trợ giữa các doanh nghiệp trong vùng… để đảm bảo sự chia sẻ lợi ích chung giải quyết những gánh nặng xã hội và ô nhiễm môi trường. Các địa phương vẫn sẽ lúng túng, bị động trong việc đề xuất và triển khai các hoạt động liên kết.

III. Định hướng hoạt động của Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung trong thời gian tới

          1. Định hướng hoạt động

Thứ nhất, tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả cơ chế điều phối và 09 nội dung liên kết đã được lãnh đạo chủ chốt 9 tỉnh/thành phố ký kết.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế điều phối, nâng cao vị trí, vai trò của Ban Điều phối vùng trong việc tham gia các chủ trương, chính sách phát triển vùng và định hướng phát triển các địa phương trong vùng.

Thứ ba, sớm triển khai xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của toàn vùng, xác định các mục tiêu trọng điểm, các dự án cần ưu tiên đầu tư để phát triển vùng và từng địa phương, tạo ra sự đồng thuận của các địa phương trong vùng để trình Trung ương, Chính phủ giúp đỡ và việc thu hút đầu tư của từng địa phương tránh sự chồng chéo.

Thứ tư, xây dựng các cơ chế hợp tác phát triển vùng hiệu quả; tạo dựng thương hiệu, hình ảnh và tăng cường sức cạnh tranh của vùng; tăng cường chia sẻ hợp tác trong đầu tư phát triển để tập hợp sức mạnh toàn vùng và nâng cao mức sống của người dân.

Thứ năm, tích cực tham gia và hỗ trợ nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hợp tác phát triển vùng và những vấn đề cấp bách có tính đột phá đang đặt ra ở từng địa phương trong vùng.

Thứ sáu, tiếp tục phối hợp với các Ban, Bộ, ngành Trung ương triển khai các hoạt động nghiên cứu, tổ chức các hội nghị, hội thảo góp phần thúc đẩy hợp tác phát triển vùng duyên hải miền Trung cũng như xây dựng một số cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển vùng trình Trung ương, Quốc hội, Chính phủ cho phép thực hiện.

2. Định hướng cơ cấu tổ chức, cơ chế điều phối của ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung

Để tăng cường khả năng phối hợp hoạt động của các địa phương trong vùng, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu và nội dung liên kết đã định hướng trong giai đoạn tới, Ban điều phối vùng duyên hải miền Trung sẽ có những thay đổi nhất định về thể chế quản lý, điều phối vùng. Cụ thể:

a. Về nguyên tắc tổ chức, hoạt động:

- Duy trì vị thế là một tổ chức phi hành chính, trung gian giữa cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố nhận ủy quyền của Trung ương, Chính phủ và các địa phương trong vùng thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ có liên quan đến liên kết phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong vùng duyên hải miền Trung. 

- Đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung hoạt động như một tổ chức dân sự (Hội, Đoàn dân sự đặc biệt) trên cơ sở tự nguyện và đồng thuận, đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thành viên là Ban Điều phổi vùng duyên hải miền Trung chủ yếu các đồng chí Bí thư tỉnh ủy, thành ủy do Đảng cử để chỉ đạo bộ máy chính quyền các tỉnh, thành phố trong vùng thực hiện các hoạt động liên kết vùng; đủ uy tín đủ uy tín, năng lực ra quyết định điều phối hoạt động vùng và thẩm quyền kiến nghị các vấn đề phát triển vùng lên Chính phủ, Quốc hội.

- Ra quyết định dựa trên cơ sở tự nguyện và đồng thuận; hoạt động với nguồn tài chính độc lập, không yêu cầu sự bổ sung thường xuyên từ ngân sách Trung ương.

- Đóng vai trò phối hợp, thúc đẩy trong các quyết định của Ban chỉ đạo điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm và Hội đồng vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.

b. Về cơ cấu tổ chức

   - Thành phần Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung trong giai đoan tới, bao gồm 12 thành viên: 09 đồng chí Bí thư tỉnh ủy/thành ủy các tỉnh thành phố vùng duyên hải miền Trung (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận), TS. Trần Du Lịch, Trưởng Nhóm Tư vấn hợp tác phát triển vùng; Đ/c Trần Bắc Hà, Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Nghiên cứu Phát triển miền Trung và Đ/c Đào Tấn Lộc, Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Nguyên Bí thư tỉnh ủy Phú Yên. Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động kết nối, cần thiết mời thêm lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo một số Ban, Bộ ngành Trung ương và một số tổ chức xã hội nghề nghiệp liên quan trong vùng.

- Giữ nguyên cơ cấu tổ chức và quy chế hoạt động của 03 đơn vị trực thuộc hiện nay là: (1) Nhóm Tư vấn hợp tác phát triển vùng; (2) Quỹ Nghiên cứu phát triển miền Trung và (3) Trung tâm Tư vấn - Nghiên cứu phát triển miền Trung.

c. Về cơ chế quản lý phối hợp

- Trên cơ sở đề xuất thường của các Ban, Bộ, ngành, các hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức xã hội và các địa phương trong vùng, Ban Điều phối vùng tổng hợp và lựa chọn các đề xuất cần ưu tiên đầu tư, thống nhất phương án điều phối[3], dự kiến phân bổ nguồn lực trình cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương (nếu có), phân công các đơn vị trực thuộc và cùng các địa phương có liên quan phối hợp thực hiện (kể cả địa phương liên quan thuộc vùng khác).

- Chủ động phân công giám sát, tổ chức xây dựng cơ chế, chính sách phát triển vùng để phối hợp cùng các Ban, Bộ, ngành Trung ương trình Chính phủ, Quốc hội xem xét và cho phép áp dụng.

- Phối hợp cùng các Bộ, Ban, ngành Trung ương và Hội đồng vùng kinh tế trọng điểm miền Trung điều phối nguồn vốn cho các chương trình, dự án, công trình cấp vùng và mang tính chất vùng, cụ thể hóa các nội dung liên kết đã định hướng cho giai đoạn 2016 – 2020.

IV. Đề xuất và kiến nghị

(1)  Đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư cho thí điểm triển khai Thể chế hóa cơ cấu tổ chức và quy chế hoạt động của Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung. Trên cơ sở đó Ban Cán sự Đảng Chính phủ ban hành quyết định về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung, song song với quá trình kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực để Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung thực hiện tốt vai trò điều phối và phối hợp phát triển với các vùng kinh tế khác.

(2) Vì tổ chức quản trị theo mô hình hợp tác tự nguyện của các địa phương tham gia nên Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung vẫn không phải là một cấp hành chính trung gian giữa Trung ương và địa phương. Ở điểm này, Ban điều phối vùng kiến nghị Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương và các địa phương nên xem xét rà soát, tích hợp các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư hiện có và phân cấp cho Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung trực tiếp điều phối thành chính sách phát triển kinh tế - xã hội chung của vùng nhằm phân bổ nguồn lực đầu tư hợp lý cho các chương trình, dự án, công trình cấp vùng và các dự án đầu tư lớn của các địa phương cần ưu tiên đầu tư; Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung sẽ dự kiến phân bổ nguồn lực, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và các địa phương phối hợp thực hiện. Điều này đảm bảo sử dụng hiệu quả suất đầu tư và giảm bớt nguy cơ xung đột dài hạn giữa các chiến lược phát triển kinh tế vùng duyên hải miền Trung.

(3) Cần xem vùng duyên hải miền Trung là địa bàn trọng điểm để thực hiện chiến lược kinh tế biển của nước ta. Trong đó tập trung vào 3 nhóm ngành kinh tế chính: Ngư nghiệp (đánh bắt và chế biến hải sản); du lịch biển đảo (gắn với du lịch văn hóa, lịch sử) và khu kinh tế ven biển (gắn với ưu thế về cảng biển). Đưa các nội dung trên thành những chương trình quốc gia để phát triển với lộ trình cụ thể từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Điều chỉnh lại Quy hoạch tổng thể toàn vùng; phân bố hợp lý lực lượng sản xuất nhằn tránh phân tán nguồn lực.

(4) Ưu tiên bố trí các nguồn vốn đầu tư và chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai một số dự án trọng điểm trong vùng, đặc biệt là hoàn chỉnh việc định tuyến đối với tuyến đường cao tốc xuyên vùng; đường ven biển; xây dựng trung tâm hậu cần nghề cá; phát triển mạnh đội ngũ tàu thuyền hiện đại đánh bắt xa bờ và công nghệ bảo quản hải sản trên biển. Tập trung xây dựng một vài đô thị với nền kinh tế đủ mạnh là trung tâm của toàn vùng.

(5) Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương cũng cần quan tâm và hỗ trợ hơn nữa trong các hoạt động liên kết vùng duyên hải miền Trung, nhất là các kiến nghị từ các kỳ Hội thảo khoa học Liên kết vùng như: Hoàn thiện hệ thống giao thông đường bộ, phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, liên kết phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao… Dựa trên cơ sở các kiến nghị này, các Bộ ngành Trung ương nghiên cứu, xem xét lựa chọn và đề nghị lên Chính phủ đưa vào chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển của quốc gia và của vùng. Lãnh đạo Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương cần tham gia trực tiếp nhiều hơn vào các cuộc hội nghị, hội thảo và cuộc họp về liên kết vùng nhằm nắm bắt và giải quyết kịp thời các đề xuất, kiến nghị của Ban Điều phối vùng cũng như của từng địa phương, nhằm tăng cường khả năng liên kết, đẩy mạnh giao lưu hợp tác giữa các vùng trong cả nước, tránh tình trạng bị chia cắt theo địa lý hành chính.

(6) Bên cạnh đó cấp thiết kiến nghị Trung ương xem xét cho phép nghiên cứu sửa đổi, thí điểm cơ chế chia sẻ nguồn thu và nhiệm vụ chi ở cấp vùng (giữa các địa phương đóng góp cho vùng) một mặt để đảm bảo nguồn lực hỗ trợ hoạt động của bộ máy điều phối vùng, một mặt giải quyết bài toán xung đột lợi ích, tập trung phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng dùng chung (hệ thống sân bay, cảng biển, viễn thông, trung tâm nghiên cứu, đào tạo…) tăng cường tích tụ nguồn hàng hóa, tăng cường năng lực cạnh tranh để hình thành cực tăng trưởng đủ mạnh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế các địa phương trong vùng.

 


[1] Trong hơn 10 cuộc hội thảo đã được tổ chức có một số hội nghị lớn mang tầm quốc tế để lại nhiều dấu ấn quan trọng về vùng duyên hải miền Trung và tư duy liên kết phát triển vùng của các đại biểu tham gia, nhận được sự đánh giá cao và ghi nhận trực tiếp từ lãnh đạo Chính phủ cùng các Bộ ngành Trung ương phối hợp.  

[2]Khu công nghiệp hỗ trợ cơ khí chế tạo tại Khu kinh tế mở Chu Lai - Quảng Nam và Khu công nghiệp hỗ trợ ngành Dệt may tại Thừa Thiên Huế.

[3] Chủ trì thảo luận cùng các địa phương tham gia xác định quy mô dự án, hoạt động liên kết, cách thức thực hiện, địa điểm tổ chức các hoạt động và mức đóng góp của các địa phương tham gia.

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
Tin đọc nhiều
49.932 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
24.345 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
22.942 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
22.258 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
18.958 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
16.429 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p