7:59 18/09/2015
Cỡ chữ

PGS. TS. MẠC VĂN TIẾN

Viện Nghiên cứu khoa học Dạy nghề

1. Tổng quan nguồn nhân lực

1.1. Tổng quan chung

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến năm 2014, dân số nước ta đạt trên 90,7 triệu người, trong đó dân số của vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (từ Thanh Hóa đến Bình Thuận) là 19,5 triệu người, dân số của vùng Tây Nguyên 5,52 triệu người và dân số vùng Đông Nam Bộ là 15,8 triệu người.

 Số liệu của Tổng cục Thống kê, quy mô lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam là 53,7 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 47,52 triệu người. Tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 47,1%; khu vực công nghiệp và xây dựng 20,8%; khu vực dịch vụ là 32,1%.

Lực lượng lao động (LLLĐ) phân bố không đều giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng kinh tế - xã hội: có tới 69,3% lực lượng lao động vẫn tập trung ở khu vực nông thôn. Lao động tại các vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung; vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên chiếm 24% tổng số lao động toàn quốc.

LLLĐ của Việt Nam tương đối trẻ, hơn một nửa (51,0%) số người thuộc LLLĐ có độ tuổi từ 15 - 39 tuổi, nhóm tuổi trẻ (15 - 29 tuổi) chiếm đến hơn một phần tư tổng LLLĐ (26,7%); và nhóm tuổi thanh niên (15 - 24 tuổi) chiếm 14,1%, tương đương 7,9 triệu người.

Bảng 1: Cơ cấu lao động theo theo nhóm tuổi

Đơn vị %

 

Năm

Tổng số

Nhóm tuổi

15-24

25-49

50+

2005

100,0

20,4

63,3

16,3

2006

100,0

21,0

63,7

15,3

2007

100,0

18,2

62,3

19,5

2008

100,0

18,1

62,2

19,7

2009

100,0

18,6

61,4

20,0

2010

100,0

18,3

61,4

20,3

2011

100,0

16,5

61,3

22,2

2012

100,0

15,1

61,1

23,8

2013

100,0

14,9

59,9

25,2

2014

100,0

14,1

59,7

26,2

Nguồn: Niên giám thống kê 2015

Lao động trong ngành dịch vụ, trong đó có du lịch có xu hướng tăng lên, từ 24,8 triệu người năm 2005 lên 31,86 triệu người năm 2014,  nhưng về cơ cấu đã giảm.

Bảng 2: Cơ cấu lao động có việc làm phân theo khu vực kinh tế giai đoạn 2004 - 2014

Đơn vị: %

 

2004

2009

2011

2013

2014*

Nông nghiệp

57,90

51,50

48,40

46,95

47,05

Công nghiệp

17,40

20,00

21,30

21,12

21,09

Dịch vụ

24,80

28,40

30,30

31,93

31,86

Nguồn: * 2014 là số ước tính; Số liệu điều tra Lao động - Việc làm, Tổng cục Thống kê

Đến nay, Việt Nam vẫn là nước có cơ cấu lao động lạc hậu trong ASEAN và châu Á với tỷ lệ lao động nông nghiệp cao thứ 4 (sau Lào, Ấn Độ và Myanmar), trong khi một số nước khác, lao động trong lĩnh vực dịch vụ, trong đó có du lịch, chiếm tỷ lệ khá cao trong lực lượng lao động, chẳng hạn bình quân của ASEAN là 40,6%; Philippines là 53,4%; Hàn quốc là 77,2%... 

Xét theo nghề nghiệp đang làm việc, trong tổng số lao động, lao động có chuyên môn kỹ thuật (CMKT) bậc cao năm 2013 là 2,96 triệu người, lao động có CMKT bậc trung là 1,19 triệu người. Số lao động có CMKT bậc cao tăng 1,33 lần so với năm 2009 và số có CMKT bậc trung giảm chỉ bằng 93,42% so với năm 2009. Trong khi đó, số lao động làm các nghề giản đơn tăng 1,13 lần trong cùng thời kỳ.

1.2. Nhân lực du lịch

Hiện chưa có số liệu thống kê chính thức, tuy nhiên qua số liệu báo cáo của các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2010,  nhân lực ngành du lịch có khoảng 1.472.000 người (trong đó có 460.000 lao động trực tiếp). Số lượng nhân lực ngành du lịch những năm gần đây tăng trưởng mạnh, trong đó nhân lực gián tiếp có xu hướng tăng với quy mô lớn hơn, phản ánh vai trò của ngành du lịch và tính hiệu quả của việc xã hội hóa hoạt động du lịch.

Bảng 3: Quy mô nhân lực ngành du lịch

Đơn vị tính: Người

            Năm

Chỉ tiêu

2005

2006

2007

2008

2009

2010

Tổng số

875.128

950.000

1.251.200

1.358.750

1.389.600

1.472.000

LĐ trực tiếp

275.128

310.675

391.177

424.750

434.240

460.000

LĐ gián tiếp

600.000

750.000

860.600

934.000

955.350

1.012.000

Nguồn: Tổng cục Du lịch; Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch

Số lượng nhân lực ngành du lịch của cả nước nói chung và ở ba vùng còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động. Chẳng hạn, chỉ riêng Đà nẵng nhu cầu nhân lực năm 2015 cần thêm khoảng  20.000 người nhưng hiện nay chỉ đáp ứng được 1/5 nhu cầu này.

Nhân lực ngành du lịch phân bổ không đồng đều giữa các địa phương, các địa giới du lịch; tập trung chủ yếu ở các trung tâm du lịch lớn, nơi có nhiều tài nguyên du lịch đã được khai thác và phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển du lịch. Nhân lực ở vùng Bắc Trung Bộ chiếm 8,7%, Nam Trung Bộ chiếm 7,3%, Tây Nguyên chiếm 3,5%, Đông Nam Bộ chiếm 34%. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh thu hút được 24% tổng số nhân lực du lịch cả nước. Hiện tượng thừa, thiếu cục bộ nhân lực giữa các địa phương đang là khó khăn lớn trong phân bố nhân lực du lịch.

Bảng 4: Cơ cấu nhân lực ngành du lịch theo vùng

STT

Chỉ tiêu

Tỷ trọng (%)

1

Tng số lao động du lịch trực tiếp

100

2

Phân theo từng vùng

-

2.1

 Bắc Trung Bộ

8,7

2.2

 Nam Trung Bộ

7,3

2.3

 Tây Nguyên

3,5

2.4

 Đông Nam Bộ

33,9

2.4.1

 Thành phố Hồ Chí Minh

24,0

Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch

Nhân lực làm việc tại khu vực kinh doanh chiếm 98,1% nhân lực toàn ngành. Nhân lực trực tiếp phục vụ bàn, bar chiếm 15%, phục vụ buồng chiếm 14,8%, chế biến món ăn, đồ uống chiếm 10,6%, điều khiển phương tiện vận chuyển khách chiếm 10,4%, lễ tân chiếm 9%, lữ hành, hướng dẫn du lịch chiếm 4,9% và lao động khác (nhân viên bán hàng lưu niệm, bảo vệ, nhân viên kỹ thuật, sửa chữa, bảo dưỡng trong khách sạn, chăm sóc cây cảnh...) chiếm 35,3%.

Cơ cấu nhân lực du lịch nước ta được đánh giá là đang mất cân đối. Nhân lực quản trị, giám sát trong doanh nghiệp du lịch chiếm 25% (tỷ lệ phù hợp khoảng 15% tổng nhân lực). Trong khi đó, tỷ lệ nhân lực kỹ thuật lành nghề chỉ là 75% (phù hợp phải là 85%). Tỷ lệ “thầy/thợ” hiện tại là 1:3 (trong khi đó tỷ lệ hợp lý là vào khoảng 1:6). 

Cơ cấu nhân lực phục vụ trực tiếp trong nghề lễ tân, phục vụ buồng, phục vụ bàn -bar, nấu ăn, lữ hành và hướng dẫn du lịch, điều khiển phương tiện vận chuyển du lịch và nghề khác hiện tại tương ứng là 9%, 14,8%, 15%, 10,6%, 4,9%, 10,4% và 35,3%.

2. Chất lượng nhân lực du lịch

2.1. Chất lượng chung

Chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau. Trong báo cáo này chỉ đề cập đến khía cạnh “trí lực”.

Nguồn nhân lực của Việt Nam trẻ và dồi dào nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo có tăng lên, nhưng vẫn còn thấp. Năm 2014, LLLĐ đã qua đào tạo chiếm 18,2% ( năm 2005 tỷ lệ này là 12,5%). Tỷ lệ lao động qua đào tạo ở nông thôn chỉ đạt 11,2%, trong khi đó tỷ lệ này ở thành thị là 34,3% ( xem hình 2).

Đặc biệt là LLLĐ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên cao gấp 5,4 lần so với khu vực nông thôn. Nam giới có trình độ cao hơn nữ giới (20,9% và 15,8%); đặc biệt, nam giới có trình độ qua đào tạo nghề cao gấp gần 4 lần nữ giới (8,2% và 2,3%).          

Trong các nhóm tuổi, trong nhóm lao động  trong độ tuổi từ 25 - 29 tuổi tỷ lệ lao động qua đào tạo cao nhất, đạt 30,1%, thấp nhất là ở nhóm lao động  trong độ tuổi từ 15 -19 tuổi ( đạt 1,9%). Cơ cấu lao động qua đào tạo phân theo nhóm tuổi như sau:

Bảng 5: Lao động qua đào tạo phân  nhóm tuổi


2009

2010

2011

2012

2013

2014

TỔNG SỐ

14,8

14,6

15,4

16,6

17,9

18,2

15 - 19 

2,2

1,3

1,6

1,9

2,2

1,9

20 - 24 

16,7

14,8

16,9

19,7

23,0

23,4

25 - 29 

23,3

23,8

25,2

27,0

29,2

30,1

30 - 34 

18,0

20,0

21,0

22,6

26,0

26,6

35 - 39 

13,3

13,9

15,2

17,3

18,6

19,7

40 - 44 

12,2

12,0

13,0

13,9

14,6

15,0

45 - 49 

14,2

13,1

13,7

13,7

13,7

14,2

50+ 

11,6

11,6

12,2

12,5

13,2

12,8

Nguồn: Niên giám thống kê 2015

Tuy nhiên, theo cách tính của Bộ Lao động thương binh và Xã hội, tỷ lệ lao động qua đào tạo của lực lượng lao động cao hơn so với cách tính của Tổng cục Thống kê. Theo đó, tỷ lệ lao động có CMKT đã tăng khá nhanh từ 22,7% năm 2004 lên 49,14% năm 2014.

Bảng 6: Số lượng và cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, 2004 - 2014

Tiêu chí

2004

2009

2010

2013

2014

Tốc độ tăng bình quân (%/năm)

2010-2014

2004-2014

1. Số lượng (triệu người)

43,24

49,30

50,84

52,67

53,75

1,58

2,31

1.1. Không có CMKT

33,43

30,47

30,50

27,77

27,34

-2,47

-1,76

1.2. Có CMKT

9,82

18,83

20,33

24,90

26,41

7,07

10,47

Trong đó, Lao động qua đào tạo có bằng cấp/chứng chỉ

5,36

7,94

8,24

9,62

9,99

4,78

6,32

2. Cơ cấu (%)

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

 

 

2.1. Không có CMKT

77,30

61,80

60,00

52,73

50,86

 

 

2.2. Có CMKT

22,70

38,20

40,00

47,27

49,14

 

 

Trong đó, Lao động qua đào tạo có bằng cấp/chứng chỉ

12,39

16,10

16,20

18,26

18,59

 

 

Nguồn:  - Bộ LĐTBXH, Điều tra Việc làm - Thất nghiệp qua các năm 1996 - 2006 

- Tổng cục Thống kê, Điều tra Lao động - Việc làm qua các năm 2007 - 2014 

- Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Số liệu lao động qua đào tạo không có bằng cấp/chứng qua các năm 2004 - 2014

Tuy nhiên, tỷ trọng lao động qua đào tạo có bằng cấp/chứng chỉ còn thấp, mới chỉ  đạt 18,59% đến năm 2014, tương ứng với 9,99 triệu người (gồm 2,4 triệu lao động đã qua đào tạo nghề ở trình độ sơ cấp và trung cấp, hơn 2 triệu lao động có trình độ tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp và 5,35 triệu lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên). Hiện nay, chất lượng lao động Việt Nam vẫn còn rất thấp so với các nước trong khu vực, do đó cần được cải thiện nhanh hơn nữa để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và hội nhập.

Trong số lao động qua đào tạo, năm 2014, số lao động qua đào tạo nghề chiếm khoảng 4,9% và lao động có trình độ  từ đại học trở lên chiếm 7,6%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo ở các bậc trình độ có xu hướng tăng lên, qua các năm, nhưng không đồng đều ở các bậc, cụ thể như sau:

Giữa các khu vực kinh tế, trong số lao động làm trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp, tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp (chỉ 3,6%). Trong khu vực dịch vụ, trong đó có du lịch, tỷ lệ lao động qua đào tạo khá hơn cả (đạt 38%).

Bảng 7: Lao động có việc làm phân theo khu vực kinh tế và trình độ chuyên môn kỹ thuật

Đơn vị tính: %

Trình độ chuyên môn kỹ thuật

Tổng số

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Công nghiệp và xây dựng

Dịch vụ/du lịch

Tổng số

100,0

100,0

100,0

100,0

Không có trình độ CMKT

82,0

96,4

81,6

62,0

Sơ cấp nghề

3,2

0,7

5,1

5,3

Trung cấp nghề

1,6

0,4

3,3

2,2

Trung cấp chuyên nghiệp

3,7

1,4

2,6

7,8

Cao đẳng nghề

0,4

0,1

1,1

0,5

Cao đẳng

2,0

0,4

1,5

4,6

Đại học trở lên

7,0

0,5

4,8

17,7

Nguồn: Tính toán từ kết quả Điều tra cung lao động 2013, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

Đối với ba vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung; Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, tỷ lệ lao động qua đào tạo qua các năm như sau:

Bảng 8: Tỷ lệ lao động qua đào tạo giai đoạn 2010 - 2015 của một số vùng kinh tế

Đơn vị %

 

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Toàn quốc

14,6

15,4

16,6

17,9

18,2

Vùng Bắc Trung Bộ và DHMT

12,7

14,4

14,9

15,9

16,4

Tây nguyên

10,4

10,8

12,1

13,1

12,3

Đông Nam Bộ

19,5

20,7

21,0

23,5

24,1

Nguồn: Niên giám thống kê, 2015

2.2. Chất lượng nhân lực ngành du lịch

Nhân lực có trình độ đào tạo sơ cấp, trung cấp và cao đẳng du lịch là lực lượng lao động trực tiếp phục vụ khách, cung cấp sản phẩm du lịch, chiếm 47,3% nhân lực được đào tạo, bằng 19,8% tổng nhân lực toàn ngành. Nhân lực được đào tạo đại học và sau đại học về du lịch chiếm 7,4% số nhân lực có chuyên môn du lịch, bằng 3,2% tổng nhân lực. Số nhân lực có trình độ đại học và trên đại học về du lịch như trên là thấp so với nhu cầu phát triển và hội nhập quốc tế. Nhân lực trình độ dưới sơ cấp nghề (đào tạo truyền nghề, dưới 3 tháng) chiếm 45,3% nhân lực có chuyên môn, bằng 19,4% tổng số nhân lực toàn ngành. Nếu chỉ tính nhân lực có trình độ sơ cấp trở lên thì nhân lực được đào tạo chiếm khoảng 23% tổng nhân lực toàn ngành. Nếu tính thêm số nhân lực được đào tạo truyền nghề, dưới 3 tháng, thì nhân lực được đào tạo của ngành du lịch đạt khoảng 42% tổng nhân lực toàn ngành.

Theo lĩnh vực hoạt động, nhân lực là hướng dẫn viên du lịch tốt nghiệp đại học chiếm khoảng 65,5% tổng số hướng dẫn viên; tỷ lệ này trong marketing du lịch là 84,2% và lễ tân là 65,3%. Trong lĩnh vực phục vụ buồng, bar, bàn, bếp... lao động có trình độ trung cấp và sơ cấp lại chiếm tỷ lệ lớn: nhân viên bếp là 85,61%; bàn, buồng, bar tương ứng là: 72,4%, 70,7%, 75,5%.

Nhân lực ngành du lịch còn nhiều mặt chưa đáp ứng nhiệm vụ phát triển du lịch khi hội nhập quốc tế ngày một sâu, toàn diện và yêu cầu phát triển nền kinh tế tri thức. Số lượng nhân lực còn ít, cơ cấu chưa đồng bộ và năng lực thực tiễn chưa tương xứng với bằng cấp. Nhân lực có trình độ, tay nghề cao chưa nhiều và ngày càng thiếu những cán bộ đầu đàn làm nòng cốt đào tạo nhân lực trẻ. Kiến thức hội nhập, ngoại ngữ, tin học; năng lực sáng tạo, lãnh đạo, quản lý, quản trị và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế chưa tương ứng với yêu cầu phát triển của ngành. Một bộ phận nhân lực chưa tích cực tự học, còn ngại học, kết quả làm việc không cao. Nhiều lĩnh vực chuyên môn sâu còn thiếu nhiều nhân lực. Đang thiếu nhiều cán bộ quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp, quản trị kinh doanh, chuyên gia hoạch định chính sách, nghiên cứu chiến lược phát triển ngành; đặc biệt thiếu chuyên gia đầu ngành giỏi kỹ thuật, nghiệp vụ du lịch. Chất lượng nhân lực quản lý ở địa phương còn nhiều bất cập; nhân lực thuộc các ngành nghề kinh doanh mới, doanh nghiệp mới chưa được đào tạo đầy đủ và bài bản. Bên cạnh sự mất cân đối và thiếu cán bộ có chuyên môn giỏi ở nhiều lĩnh vực, sự mất cân đối theo vùng, miền cũng là vấn đề lớn. Trong ba vùng liên quan, thì duyên hải miền Trung và Tây nguyên, nơi có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, nhưng lại thiếu trầm trọng nhân lực.

Nhân lực phục vụ chiếm một tỷ lệ lớn trong nhân lực trực tiếp, nhưng nhìn chung trình độ đào tạo thấp, hiểu biết về văn hóa - xã hội và văn minh giao tiếp hạn chế. Nhân lực làm lễ tân và hướng dẫn du lịch mặc dù đã có chuyển biến nhiều về chuyên môn du lịch, nhưng hiểu biết về văn hóa, ứng xử của khách và ngoại ngữ còn nhiều hạn chế, thường chỉ biết một ngoại ngữ và tiếng Anh vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trong khi nước ta đang mở rộng khai thác thị trường du lịch khác như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Trong bối cảnh bùng nổ du lịch toàn cầu, du lịch Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất (được coi là điểm nghẽn) đối với ngành du lịch là thiếu hụt nhân lực, nhất là thiếu hụt về chất lượng nhân lực.

Nhìn tổng thể chất lượng nguồn nhân lực theo trình độ được đào tạo có sự cải thiện số người qua đào tạo chiếm khoảng 42,5% lực lượng lao động, trong đó trình độ sơ cấp, trung cấp 47,3%, cao đẳng 19,8%, đào tạo ngắn hạn về du lịch là 45,3, trình độ đại học và sau đại học chỉ chiếm 7,4% số lao động có chuyên môn du lịch và chỉ chiếm 3,11% trong tổng số lao động. Cũng theo thống kê thì hiện có khoảng 60% lực lượng lao động của ngành biết và sử dụng các ngoại ngữ khác nhau, trong đó 42% là biết sử dụng tiếng Anh, tiếp theo là tiếng Trung (5%), Pháp (4%) và tiếng khác (9%).

Tuy nhiên, có thể thấy, chất lượng nhân lực du lịch còn hạn chế theo nhiều phương diện. Ở các công ty liên doanh đầu tư nước ngoài thì lao động thường được đào tạo bài bản, đa số có kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng chuẩn mực quốc tế và có trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu công việc. Ở các doanh nghiệp nhà nước đội ngũ lao động đang được đào tạo và đào tạo lại nhưng chưa đồng đều. Ở một số địa phương vẫn có đến 80% lao động chưa được đào tạo về du lịch, trình độ ngoại ngữ vẫn rất hạn chế. Nhiều vị trí công việc thiếu trầm trọng chuyên gia và quản lý chuyên nghiệp như cán bộ quản lý nhà nước về du lịch, quản lý kinh doanh, quản trị chiến lược, nghiên cứu phát triển, nhân viên có kỹ năng tay nghề cao... 

Thực trạng này càng phổ biến ở các cơ sở kinh doanh vừa và nhỏ hay hộ gia đình. Trên thực tế tỷ lệ các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ lại chiếm tỷ lệ khá lớn (gần 90%, ở một số nước tiên tiến tỷ lệ này là khoảng từ 75 - 80%), thì chất lượng dịch vụ du lịch và hình ảnh của điểm đến du lịch phụ thuộc rất lớn vào hoạt động của loại hình doanh nghiệp này. Bên cạnh đó giữa đào tạo và sử dụng nhân lực du lịch còn có những hạn chế. Chẳng hạn, số liệu điều tra đối với lao động du lịch Thừa Thiên Huế tháng 3.2007. cho thấy thực trạng đáng chú ý là số lao động đang công tác chuyên môn quản lý kinh tế trong ngành du lịch Thừa Thiên Huế có đến 81,6% không qua đào tạo về nghiệp vụ du lịch, 56,1% số này không qua đào tạo về ngoại ngữ; chỉ có 1% số lao động này có trình độ đại học về du lịch, 7% có trình độ trung cấp du lịch. Theo các nhà quản lý du lịch ở các tỉnh vùng duyên hải miền Trung khác thì tình hình cũng tương tự.

 Thực tế trên đặt ra yêu cầu bức thiết phải tăng cường đào tạo nhanh và đào tạo lại cán bộ làm công tác du lịch có trình độ chuyên môn cao về du lịch.

Theo một số báo cáo khác, trong tổng số gần 1,5 triệu lao động của ngành, đại đa số là lao động chưa qua đào tạo hoặc đào tạo trình độ thấp. Số lao động qua đào tạo chỉ chiếm chưa đến 20%, trong đó chỉ có 3% có trình độ từ đại học trở lên.

Bên cạnh sự thiếu hụt về chuyên môn, chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch còn hạn chế ở khía cạnh ngoại ngữ. Sau thời kỳ tiếng nga, thì đa số nhân lực biết ngoại ngữ thì chỉ biết tiếng Anh. Nhân lực biết ngoại ngữ tiếng Anh, chiếm khoảng 42% nhân lực toàn ngành. Tuy nhiên trong số biết tiếng Anh thì 85% nhân lực có trình độ tiếng Anh ở mức cơ sở (A, B, C), có thể giao tiếp bình thường, chỉ có 15% số nhân lực có trình độ đại học, đọc, nói và giao tiếp thông thạo. Số này chủ yếu nằm vào nhóm nhân lực làm hướng dẫn du lịch, lễ tân khách sạn. Nhân lực sử dụng tiếng Trung, tiếng Pháp và các tiếng khác với tỷ lệ tương ứng là 5%, 4% và 9% nhân lực toàn ngành, trong khi đó nhiều ngôn ngữ khác có nhu cầu như Tây ban Nha, tiếng Nhật, tiếng Hàn, hoặc các thứ tiếng của các nhóm nước Đông Nam Á như Thái, tiếng Indonesia… nhưng dường như nhiều doanh nghiệp lữ hành Việt Nam không đáp ứng được.

Như vậy, có thể nói, nhân lực du lịch Việt Nam còn thiếu về số lượng, hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp và yếu về ngoại ngữ, là những rào cản làm hạn chế tiềm năng phát triển du lịch của đất nước.

2.3. Đánh giá chung

- Chất lượng và cơ cấu nhân lực nói chung và nhân lực ngành du lịch nói riêng của ba vùng vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập. Chất lượng nguồn nhân lực nước ta đang rất thấp, là một trong những “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển (Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, 2013). Chất lượng nguồn nhân lực du lịch của Việt Nam còn thấp và có khoảng cách khá lớn so với các nước phát triển trong khu vực. Theo các báo cáo Chỉ số cạnh tranh ngành du lịch và lữ hành của World Economic Forum cho thấy, chỉ số cạnh tranh chung của du lịch Việt Nam đang mặc dù được cải thiện từ vị thứ 96 (năm 2008), lên thứ 89 (năm 2009) lên thứ 80 (năm 2011), nhưng nhiều tiêu chí lẽ ra được coi là lợi thế của du lịch Việt Nam thì lại không được đánh giá cao. Đặc biệt, trong nhóm 10 chỉ số đánh giá khả năng cạnh tranh nguồn lực thì chỉ số tính có sẵn của dịch vụ đào tạo và nghiên cứu  xếp 104/139. Tính bền vững môi trường của phát triển du lịch và lữ hành xếp thứ 63/139. Điều này cũng nằm trong tình trạng chung của chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Chất lượng nguồn nhân lực Việt nam thấp so với các nước khác. Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm - xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của Ngân hàng Thế giới; trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94... Chất lượng của lao động Việt Nam thấp, nên năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ở châu Á - Thái Bình Dương, trong đó, thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và Hàn Quốc 10 lần. Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan. Việt Nam còn thiếu nhiều lao động lành nghề, nhân lực qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp về tay nghề và các kỹ năng mềm khác. Theo thống kê của Tổ chức thực hiện thi IELTS (Hệ thống kiểm tra sự thành thạo tiếng Anh quốc tế theo thang điểm 0-9) thì thí sinh Việt Nam có điểm trung bình là 5,78 thuộc vào nhóm các nước có điểm trung bình thấp, đứng sau Indonesia (5,97), Philippine (6,53), Malaysia (6,64). Theo công bố của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) về bảng xếp hạng chỉ số năng suất sáng tạo của lao động ở 24 nước châu Á thì Việt Nam xếp thứ 16/24, thậm chí thấp hơn cả Lào và Indonesia. Đây là một thực trạng rất đáng lo ngại khi chúng ta luôn tự đánh giá, lao động Việt Nam cần cù, thông minh.

- Cơ cấu nhân lực du lịch của ba vùng chưa hợp lý, thiếu lao động có chuyên môn và tính chuyên nghiệp cao, lao động quản trị, giám sát viên có chuyên môn sâu theo từng yêu cầu của từng bộ phận dịch vụ để cung cấp cho các khu du lịch, các khách sạn cao cấp.

- Chất lượng nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu cả về kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ và phong cách làm việc.

Nguồn nhân lực du lịch có chất lượng thấp có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là công tác đào tạo hiện nay chưa phù hợp, chất lượng đào tạo còn hạn chế. Hiện nay các trường trực tiếp đào tạo nhân lực cho ngành du lịch gồm 284 trường, bao gồm: 62 trường đại học; 80 trường cao đẳng (trong đó có 8 trường cao đẳng nghề); 117 trường trung cấp (trong đó có 12  trường trung cấp nghề); 02 công ty đào tạo và 23 trung tâm, lớp đào tạo nghề. Theo quy định, các cơ sở đào tạo có thể đào tạo các bậc đào tạo thấp hơn; cơ sở đào tạo du lịch chuyên nghiệp có thể tham gia đào tạo nghề, vì thế hiện nay cả nước có 346 lượt cơ sở đào tạo tham gia đào tạo du lịch các cấp đào tạo từ dưới sơ cấp đến sau đại học. Trong đó 115 lượt cơ sở tham gia đào tạo đại học và cao đẳng du lịch, 144 lượt cơ sở đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và 87 lượt cơ sở đào tạo nghề du lịch (trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề).

Bảng 9: Số liệu các cơ sở tham gia đào tạo du lịch (tính đến tháng 8/2010)

STT

Cơ sở tham gia đào tạo du lịch

Số lượng

(cơ sở)

Ghi chú

1

Trường đại học

62

 

2

Trường cao đẳng

80

Trong đó có  8 trường cao đẳng nghề

3

Trường trung cấp

117

Trong đó có  12 trung cấp nghề

4

Khác

25

Bao gồm 2 công ty đào tạo và 23 trung tâm, lớp đào tạo nghề

Tổng

284

 

Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Năng lực đào tạo của mạng lưới cơ sở đào tạo còn nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị của đa số cơ sở đào tạo du lịch thiếu, cũ kỹ, lạc hậu, không đồng bộ và còn khoảng cách khá lớn so với các khách sạn (nhất là khách sạn liên doanh, khách sạn từ 3 sao trở lên), các khu nghỉ dưỡng cao cấp (resort), công ty lữ hành, vận chuyển. Chương trình, giáo trình đào tạo chuyên ngành du lịch ở các cấp đào tạo đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, chưa cập nhật lý luận và thực tiễn. Tính liên thông của chương trình đang là vấn đề cần giải quyết; phương pháp đào tạo còn nặng thuyết trình, độc thoại. So với chuẩn quy định và nhu cầu đào tạo, đội ngũ giáo viên, giảng viên và đào tạo viên du lịch còn hạn chế về số lượng, chất lượng và cơ cấu, đặc biệt thiếu giáo viên tay nghề cao. Kiến thức chuyên sâu về du lịch của giảng viên, giáo viên tích lũy chủ yếu qua các lớp bồi dưỡng và tự học; số giảng viên giáo viên sử dụng thành thạo ngoại ngữ không nhiều; lực lượng giáo viên cơ hữu mỏng và rất khác nhau giữa các nhóm trường.1 Đội ngũ giảng viên, giáo viên được đào tạo chính quy chuyên ngành du lịch có trình độ, chuyên môn vững về du lịch chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 30%), phần lớn còn lại có chuyên môn không phải là du lịch. Các doanh nghiệp chưa sử dụng tốt đội ngũ đào tạo viên du lịch để đào tạo tại chỗ. Đây là khó khăn rất lớn cho công tác hội nhập của các cơ sở đào tạo chuyên ngành, hạn chế sức cạnh tranh.

Quy mô đào tạo của các cơ sở đào tạo du lịch tuy tăng mạnh, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu xã hội. Tuyển sinh hàng năm ở các bậc đào tạo mới đáp ứng được hơn 65% nhu cầu đào tạo du lịch của xã hội. Các doanh nghiệp thiếu nhân lực lành nghề, nhưng sau tuyển dụng những người vừa tốt nghiệp lại phải đào tạo lại. Đào tạo nghệ nhân, giám đốc, chức danh quản lý cao cấp và chuyên gia chưa được chú trọng.

3. Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch

3.1. Nhu cầu nhân lực

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã chỉ rõ mục tiêu “đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, sản phẩm du lịch chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, có sức cạnh tranh cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới. Phấn đấu đến năm 2030, đưa Việt Nam thành quốc gia có ngành du lịch phát triển”. Dự kiến đến năm 2015 đón được từ 7 - 7,5 triệu lượt khách quốc tế và từ 35 - 37 triệu lượt khách nội địa, và năm 2020 là 10 - 10,5 triệu lượt khách quốc tế, 47 - 48 triệu lượt khách nội địa. Thu nhập từ du lịch đạt từ 10 - 11 tỷ USD, tăng khoảng 13,8%/năm; 18 - 19 tỷ USD vào năm 2020 với tốc độ tăng 12%/năm.

Trước nhu cầu phát triển này, nhu cầu nhân lực làm việc trực tiếp trong ngành du lịch năm 2015 ước cần 620 nghìn người và năm 2020 ngành du lịch cần khoảng 870 nghìn lao động trực tiếp, tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn 2016 - 2020 là 7,0%/năm.

Bảng 10: Nhu cầu nhân lực ngành du lịch đến năm 2020
(Theo trình độ đào tạo)

Đơn vị tính: Người

STT

Chỉ tiêu

Dự báo cho

Năm

2010

Năm

2015

Năm

2020

1

Tổng số lao động du lịch

460.000

620.000

870.000

2

Trình độ trên đại học

2.300

3.500

6.100

3

Trình độ đại học, cao đẳng

66.700

88.200

130.500

4

Trình độ trung cấp

78.200

86.800

113.100

5

Trình độ sơ cấp

101.200

133.200

194.000

6

Trình độ dưới sơ cấp (qua đào tạo tại chỗ, truyền nghề hoặc huấn luyện ngắn hạn)

211.600

308.300

426.300

Nguồn: Dự báo của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch

Đối với 3 vùng liên quan, nhu cầu nhân lực như sau:

-Vùng duyên hải Nam Trung Bộ: Đến năm 2020 nhân lực du lịch là trên 400.000 người, trong đó hơn 130.000 lao động trực tiếp; phấn đấu đến năm 2030 có khoảng 700.000 lao động, trong đó khoảng 230.000 lao động trực tiếp ( QĐ 2350/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2014)

- Vùng Đông Nam Bộ: Năm 2020 nhân lực du lịch là khoảng 400.000 lao động, trong đó 130.000 lao động trực tiếp. Phấn đấu đến năm 2030 có khoảng trên 1 triệu lao động, trong đó trên 350.000 lao động trực tiếp ( QĐ 2351/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2014 )

- Vùng Tây nguyên: Năm 2015 nhân lực du lịch là 117.630 lao động (trong đó 39.210 lao động trực tiếp); năm 2025 là 166.500 lao động (trong đó 55.500 lao động trực tiếp); năm 2030 là 225.600 lao động (trong đó 75.200 lao động trực tiếp). (QĐ 2162/QĐ-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2013)

Cơ cấu vùng miền của nhân lực phải qua đào tạo:

Nhu cầu nhân lực ngành du lịch đòi hỏi phải qua đào tạo du lịch  đến năm 2020 ở các Vùng có liên quan như sau:

Bảng 11: Dự báo nhu cầu nhân lực ngành du lịch đến 2020

(Theo vùng du lịch)

Đơn vị tính: Người

 

STT

 

Chỉ tiêu

Dự báo cho

% tăng

2011-

2015

% tăng

2016-

2020

Năm

2010

Năm

2015

Năm

2020

1

Tng số nhân lực

460.000

620.000

870.000

6,2

7,0

Trong đó nhân lực qua đào tạo

293.200

406.100

577.100

6,7

7,3

2

Phân theo từng vùng du lịch

 

 

 

 

 

2.1

 Duyên hải Nam Trung Bộ

18.100

28.800

45.600

9,8

9,6

2.2

 Tây Nguyên

10.000

17.500

29.600

11,9

11,1

2.3

 Đông Nam Bộ

103.800

134.000

172.900

5,3

5,3

Nguồn: Dự báo của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch

3.2. Giải pháp

3.2.1. Giải pháp đối với đào tạo cho lĩnh vực du lịch

- Phát triển đội ngũ nhân lực du lịch đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, bảo đảm về chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch cao cấp và bền vững của  từng vùng và liên vùng.

- Cụ thể hóa Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch trên địa bàn vùng bằng các kế hoạch, chương trình phát triển nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển du lịch từng địa phương.

- Tập trung đầu tư, tăng cường năng lực các cơ sở đào tạo, cơ sở dạy nghề, hình thành mạng lưới đào tạo nhiều cấp độ để tăng nhanh quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trực tiếp trong ngành du lịch và kỹ năng cơ bản về du lịch cho lao động gián tiếp, người dân tham gia kinh doanh du lịch.

- Tập trung xây dựng đội ngũ giảng viên, đào tạo viên, thẩm định viên nghề du lịch; chú trọng đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo; tăng cường công tác đào tạo tại chỗ đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của từng địa phương và phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.

- Xây dựng chương trình, kế hoạch để nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư về du lịch và ý thức bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch.

- Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của các cơ sở đào tạo nghề du lịch; chú trọng đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo; tăng cường công tác đào tạo tại chỗ đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của từng địa phương và phù hợp với hội nhập quốc tế...

- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du lịch, cán bộ quản lý các doanh nghiệp du lịch và các khu du lịch tại các địa phương trong vùng. Tăng cường năng lực chuyên môn về xúc tiến quảng bá du lịch cho cán bộ của các Trung tâm xúc tiến du lịch tại các địa phương trong vùng.

 - Thực hiện chính sách Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động cùng tham gia để đẩy nhanh công tác đào tạo lại và bồi dưỡng lực lượng lao động trong du lịch, từng bước xã hội hóa công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch.

- Có chính sách đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý để đáp ứng yêu cầu trước mắt và chuẩn bị cho lâu dài.

- Có chính sách ưu đãi, chú trọng đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài, chuyên gia và nghệ nhân hoạt động trong lĩnh vực du lịch.

3.2.2. Đối với giáo dục nghề nghiệp nói chung

Trong bối cảnh trong nước và quốc tế như hiện nay, để góp phần nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nhân lực Việt Nam, trong đó có nhân lực du lịch trên thị trường lao động trong nước và quốc tế, nhất là khi Việt Nam trở thành thành viên của AEC, cần phải đổi mới mạnh mẽ hệ thống giáo dục - đào tạo, trong đó có giáo dục nghề nghiệp. Nghị quyết, Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI), đã đề ra 9 nhóm giải pháp để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo. Trong lĩnh lực giáo dục nghề nghiệp, theo chúng tôi, để đổi mới, căn bản toàn diện, cần tập trung vào một số giải pháp sau:

- Thứ nhất, nâng cao nhận thức về giáo dục nghề nghiệp. Các cấp ủy Đảng, chính quyền phải quán triệt tinh thần Nghị quyết của Đại hội Đảng XI và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về vai trò, vị trí của giáo dục nghề nghiệp (GDNN) trong phát triển nguồn nhân lực và trong chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực của đất nước thời kỳ 2011 - 2020 để chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực của Bộ, ngành địa phương và tổ chức thực hiện. Phải thực sự coi đầu tư GDNN là đầu tư cho phát triển, cần được ưu tiên đâu tư trong từng chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, vùng, ngành. Bên cạnh đó, cần phải hình thành thang giá trị nghề nghiệp trong xã hội.

- Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ về thể chế, chính sách. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về GDNN. Luật GDNN đã được Quốc hội thông qua có quy định về cơ chế để cơ sở GDNNlà một chủ thể độc lập, tự chủ; người đứng đầu cơ sở GDNN phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải được đào tạo về quản lý GDNN. Hoàn thiện cơ chế, chính sách về dạy nghề, học nghề. Có chính sách đãi ngộ, thu hút giáo viên GDNN; chính sách đối với người lao động qua đào tạo nghề nghiệp; chính sách đào tạo liên thông, hỗ trợ người học nghề. Xây dựng cơ chế để doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động tham gia xây dựng, đánh giá, điều chỉnh chương trình đào tạo, hướng dẫn thực hành, thực tập và đánh giá năng lực người học, hướng tới doanh nghiệp phải là một trong những chủ thể đào tạo nghề nghiệp chứ không chỉ là “đối tác”, là người thụ hưởng sản phẩm đào tạo. Đổi mới chính sách tài chính về GDNN; thực hiện cơ chế đặt hàng đào tạo cho các cơ sở GDNN, không phân biệt hình thức sở hữu.

Quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, địa phương, ngành; chú trọng phân bố các trường chất lượng cao ở các vùng kinh tế trọng điểm, vùng động lực; khuyến khích hợp tác và thành lập các cơ sở GDNN có vốn đầu tư nước ngoài. Có các cơ sở GDNN chuyên biệt đối với người khuyết tật, dạy nghề đối với người dân tộc thiểu số. 

 Đẩy mạnh xã hội hóa, đa dạng nguồn lực cho phát triển đào tạo nghề nghiệp bao gồm, nhà nước, doanh nghiệp, người học, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, trong đó nguồn ngân sách nhà nước là quan trọng Nhà nước có chính sách hỗ trợ về vốn, đất đai, thuế đối với các cơ sở GDNN ngoài công lập.

- Thứ ba, đổi mới cơ cấu GDNN trong hệ thống GDQD. Chuyển hệ thống GDNN khép kín thành hệ thống đào tạo mở, linh hoạt, liên thông giữa các thành tố của hệ thống và liên thông với các bậc học khác của hệ thống giáo dục quốc dân (GDQD). Đổi mới cơ cấu hệ thống GDNN trên cơ sở khung trình độ quốc gia, tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với bối cảnh đất nước và xu thế các nước trong khu vực và trên thế giới. Để nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo, cần triển khai thực hiện hệ thống GDNN gồm ba cấp trình độ là sơ cấp, trung cấp và cao đẳng, trên cơ sở sáp nhập trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp; cao đăng nghề và cao đẳng theo quy định của Luật Giáo dục Nghề nghiệp.

- Thứ tư, tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo nghề nghiệp, bao gồm phát triển đội ngũ giáo viên/giảng viên GDNN; chuẩn hóa về trình độ đào tạo, kỹ năng và sư phạm nghề theo các cấp độ (quốc gia, khu vực và quốc tế) và theo trình độ đào tạo. Phát triển chương trình đào tạo phù hợp với công nghệ sản xuất hiện đại theo hướng mở, mềm dẻo thích hợp với các cấp và trình độ đào tạo nghề; áp dụng một số chương trình đào tạo của các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới phù hợp với yêu cầu kinh tế - xã hội của Việt Nam. Thực hiện kiểm định cơ sở GDNN và kiểm định chương trình đào tạo. Tập trung xây dựng và ban hành tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia theo hướng năng lực thực hiện; tổ chức đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho người lao động. Chuẩn hóa cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo; ban hành các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo cho từng nghề ở từng cấp độ, trên cơ sở chuẩn đầu ra.

- Thứ năm, đổi mới hoạt động đào tạo. Chuyển chương trình đào tạo từ chủ yếu nhằm trang bị kiến thức sang mục tiêu phát triển kỹ năng và năng lực hành nghề cho người học. Đa dạng hóa nội dung đào tạo theo hướng tích hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ, hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học. Các cơ sở GDNN tự chịu trách nhiệm về các hoạt động đào tạo từ việc chủ động trong tuyển sinh, xây dựng chương trình đào tạo; xây dựng kế hoạch đào tạo, đánh giá kết quả đào tạo trên cơ sở có sự tham gia của doanh nghiệp. Các cơ sở GDNN chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng đào tạo; đảm bảo chuẩn hóa “đầu vào”, “đầu ra”; tự kiểm định chất lượng đào tạo và chịu sự đánh giá định kỳ của các cơ quan kiểm định chất lượng của nhà nước. Đổi mới quản lý quá trình dạy và học, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết quả đào tạo trên cơ sở chú trọng đánh giá việc hiểu, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các vấn đề trong  thực tiễn, có sự tham gia của doanh nghiệp hoặc đại diện sử dụng lao động.

- Thứ sáu, gắn kết giữa đào tạo với thị trường lao động và sự tham gia của doanh nghiệp. Xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ giữa GDNN với thị trường lao động cả ở cấp độ vĩ mô và cấp cơ sở để đảm bảo cho các hoạt động của hệ thống GDNN hướng vào việc đáp ứng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng ngành; đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và giải quyết việc làm cho người học. Doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào các hoạt động đào tạo nghề như xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, xác định danh mục nghề, xây dựng chương trình đào tạo, đánh giá kết quả học tập của người học nghề… Doanh nghiệp có trách nhiệm cung cấp thông tin cho các cơ sở dạy nghề (CSDN) về nhu cầu việc làm và các chế độ cho người lao; đồng thời thường xuyên có thông tin phản hồi cho CSDN mức độ hài lòng đối với “sản phẩm” đào tạo của CSDN.  Các CSDN tổ chức theo dõi, thu thập thông tin về học sinh học nghề sau khi tốt nghiệp; có trách nhiệm tiếp nhận các thông tin từ phía doanh nghiệp và thay đổi để thích ứng với nhu cầu của doanh nghiệp. Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động để gắn kết đào tạo và sử dụng lao động. Hướng tới thành lập các Hội dồng kỹ năng ngành.

- Thứ bảy, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về GDNN. Tăng cường hợp tác quốc tế về GDNN giữa các nước trong khu vực ASEAN và thế giới. Tích cực vận động, thu hút nguồn viện trợ phát triển chính thức ODA cho phát triển GDNN. Hợp tác với các nước ASEAN để tiến tới công nhận kỹ năng nghề giữa các nước, hướng tới Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Tích cực tham gia vào các hoạt động của khu vực và thế giới như  tham gia Hội thi tay nghề ASEAN, Hội thi tay nghề thế giới…

- Thứ tám, đổi mới mạnh mẽ vấn đề sử dụng lao động. Cần thay đổi cách tuyển dụng lao động, tuyển dụng công chức, viên chức theo năng lực thực tế, khả năng hoàn thành nhiệm vụ hơn là chỉ dựa vào bằng cấp. Cải cách hệ thống trả lương, trả công lao động, trên cơ sở kỹ năng nghề nghiệp và hiệu quả của công việc, nhằm tạo động lực cho người lao động làm việc với năng suất và chất lượng cao hơn.

CHÚ THÍCH

1 Các trường công lập và đào tạo chuyên về du lịch hầu hết có tỷ lệ giáo viên cơ hữu cao, còn các trường ngoài công lập, trường mới thành lập và trường mở thêm chuyên ngành du lịch tỷ lệ giáo viên cơ hữu thấp (thường dưới 50%).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Niên giám thống kê các năm từ 2010 - 2014.

2. Số liệu điều tra lao động việc làm, GSO 2013.

3. Xu hướng lao động và xã hội, 2014, ILLSA.

4. Báo cáo dạy nghề 2013 - 2014

5. Quy hoạch phát triển nhân lực 2011 - 2020

6. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng duyên hải miền Trung đến năm 2020 và tầm nhìn 2030

7. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Tây Nguyên đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.

8. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Đông Nam Bộ đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
Tin đọc nhiều
51.091 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
24.595 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
23.126 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
22.560 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
19.205 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
16.650 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p