8:04 22/09/2015
Cỡ chữ

TRẦN KỲ PHƯƠNG

Nhà nghiên cứu, thành phố Đà Nẵng

Từ thế kỷ thứ VIII đến XIII, vương quốc Champa đã trở nên thịnh vượng khi có mối quan hệ thương mãi với các thương nhân Ả Rập cũng như với thời Đường và Tống của Trung Hoa, và các tiểu vương quốc lân cận ở Campuchia và Lào ngày nay. Những mối quan hệ này được đề cập đến trong sử liệu của Việt Nam, Ả Rập, Trung Hoa cũng như trong văn bia của Champa và đã mang đến cho Champa những xu hướng mới trong kỹ thuật xây dựng đền - tháp cũng như điêu khắc thông qua sự trao đổi nghệ thuật với các nghệ nhân trong vùng. Điều đó có thể thấy rõ trên các công trình nghệ thuật tôn giáo của Champa. Bài viết này đề cập đến những tác phẩm Khmer mới được phát hiện nhằm minh chứng cho mối tương tác nghệ thuật trong vùng giữa Champa với thời tiền Angkor và Angkor của vương quốc Khmer bằng cách phục dựng và tìm hiểu vai trò quan trọng của con đường bộ trong mối tương tác kinh tế và văn hóa dựa vào những phát hiện mới về khảo cổ học dọc theo sông Sekong ở Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và cao nguyên miền Trung Việt Nam.

Trong những năm qua, Dự án Hành lang kinh tế Đông Tây (East West Economic Corridor/EWEC) đã kiến tạo một con đường bộ liên kết giữa Miến Điện - Thái Lan - Lào và Trung Việt Nam. Nghiên cứu này chỉ ra sự trùng lặp dễ thấy giữa những trung tâm thương mại cổ với các đô thị hiện đại và suy nghĩ về sự phát triển vùng kinh tế du lịch này cũng như giúp bảo tồn và phát huy các di tích khảo cổ học và văn hóa các tộc người trong khu vực.

Địa chí

Tham luận này đề cập đến những khảo sát thực địa và nghiên cứu gần đây tại tỉnh Attapue ở Nam Lào và tỉnh Rattanakiri của Campuchia; nghiên cứu này sẽ gắn kết xa hơn với miền Đông Bắc Campuchia vì sông Sekong là phụ lưu của sông Mekong tại tỉnh Stueng Treng, Campuchia. Đây cũng là khu vực tồn tại một số di chỉ khảo cổ học nổi tiếng, bao gồm các di tích kiến trúc đền-tháp thời tiền Angkor và Angkor ở Bản Thalaborivath. Nhìn chung, vùng này còn có hai nhánh sông chính khác rất quan trọng về mặt lịch sử, đó là hai con sông Sê San và Srê Pok. Cả ba con sông này đều bắt nguồn từ các rặng núi ở Tây nguyên Việt Nam rồi tách thành các đường phân thủy Đông - Tây. Vì vậy, một cách hiển nhiên là các đường phân thủy phía đông chảy qua các ngọn đèo dẫn đến quê hương của người Chàm trong truyền thống lịch sử, và chúng đều bắt nguồn từ Bắc Trung Bộ rồi lưu chuyển về phía Nam. Do đó, nghiên cứu này còn nhằm tìm hiểu xa hơn những hệ thống khảo cổ học và lịch sử, phân bổ tài nguyên và các hệ thống trao đổi thương mại truyền thống giữa những nhóm sắc tộc khác nhau thuộc hai ngữ hệ chính là Nam Á (Austro-Asiatic) và Nam Đảo (Austronesian) sinh sống ở miền xuôi và miền ngược trong vùng.

Giả thuyết

Có giả thuyết cho rằng các mô hình truyền thống tồn tại cho đến hiện nay được xây dựng phần lớn dựa trên việc hình thành các mô hình từ thời tiền sử và sơ sử xa xưa. Đây là một giả định hợp lý và chắc chắn chúng đã kinh qua nhiều biến thiên, mà có lẽ khắc nghiệt nhất là những mâu thuẫn cạnh tranh và đối kháng. Có khả năng những biến cố này bao gồm các thay đổi nơi cư trú, hệ thống xã hội và phân bổ, khai thác và sản xuất tài nguyên. Tuy nhiên, cũng có những yếu tố được bảo tồn rất tốt, có ý nghĩa quan trọng cho việc tìm hiểu phân bố khảo cổ học. Việc đối chiếu giữa quá khứ và hiện tại cũng bổ ích cho việc xác định loại hình thay đổi, tầm quan trọng của những thay đổi này cũng như những nguyên nhân khả dĩ gây ra thay đổi.

Những khảo sát gần đây và phát hiện chung

Trong những năm qua (2012 - 2014), đã có nhiều phát hiện mới trong vùng này qua các cuộc khảo sát khảo cổ học được tiến hành bởi Heng Piphal của trường Đại học Hawaii. Trong một chuyến viếng thăm lại những di tích này hồi tháng 3 năm 2014, chúng tôi mục chứng nhiều di tích mới được thăm dò và nhiều tác phẩm điêu khắc mới được tìm thấy. Hầu hết những phát hiện mới này, chẳng hạn một mi cửa (lintel) chạm hình kala-makara, đều thuộc giai đoạn nghệ thuật thời tiền Angkor và thuộc về thế kỷ VIII - IX.

Số lượng các di tích thời tiền Angkor rất phong phú, tập trung tại Bản Thalaborivat, tỉnh Stueng Treng là bằng chứng sinh động cho sự tồn tại của một vai trò trung tâm trong mạng lưới của các tuyến đường liên kết phía Đông và phía Tây bằng đường bộ cũng như đường thủy. Hầu hết các di tích kiến trúc được phát hiện dọc theo sông Mekong tại tỉnh Stueng Treng đều có niên đại vào thế kỷ VIII - IX, là thời kỳ hình thành và phát triển các tiểu quốc của vương quốc Chân Lạp (Chenla) tại Campuchia. Sự dồi dào của các di tích thời tiền Angkor ở Stueng Treng đã chỉ ra rằng vùng này từng là một trung tâm chính yếu của [các] vương quốc Chân Lạp/Lục Chân Lạp. Về phương diện cảnh quan văn hóa, vùng Đông Bắc Campuchia từ tỉnh Stueng Treng cho tới Rattanakiri, và xa hơn về phía Đông, có thể kết nối với cao nguyên miền Trung Việt Nam, bao gồm những cao nguyên đất đỏ bazan rộng lớn không có đèo cao ngăn trở. Vì vậy, thật là thuân tiện cho việc di chuyển từ vùng này sang vùng khác để trao đổi hàng hóa và ý tưởng.

Đông Bắc Campuchia

Một chứng cứ quan trọng để xác đoán cho mối liên kết lịch sử và văn hóa giữa Stueng Treng với Tây nguyên Việt Nam là một ngôi đền gạch mới phát hiện tên là Prasat Ta-nang, tọa lạc trong một ngôi làng của người Jarai gọi là Bản Dor Touch/Dor Pir, làng Yatung, huyện Oyadav, tỉnh Rattanakira.

Ngôi đền Ta-nang (Yeak Naang)

Ngôi đền nằm bên cạnh một con sông tên là O Tang, cách biên giới Campuchia -Việt Nam khoảng 10 km (gần tỉnh Gia Lai). Ngôi tháp này, trước kia, bị che phủ kín bởi một khu rừng rậm, nó mới được phát hiện vào năm 2009 khi khu rừng rậm này bị khai thác gỗ. Khi chúng tôi đến khảo sát vẫn còn nhiều cây gỗ rất to nằm rải rác trong khu vực quanh tháp. Tọa độ GPS của ngôi đền là N13°35’15.3” và E107°30’51.9”. Đây là một ngôi tháp xây hoàn toàn bằng gạch, kích thước mặt bằng, bên ngoài tháp là: 08 x 6,2 m; trong lòng tháp là: 04 x 03 m; tiền sảnh (vestibule) dài 03 m; rộng 01,5 m; gạch nung có nhiều cỡ khác nhau, kích thước trung bình, dày: từ 06 cm đến 08 cm; rộng: 18 – 20 cm; và dài: 25 – 30 cm. Tuy phần mái tháp đã bị mất hoàn toàn nhưng những phần còn lại ở thân tháp và đế tháp vẫn trong hiện trạng rất tốt để nghiên cứu. Tháp trổ cửa về hướng đông có tiền sảnh dài. Tường bên ngoài tháp, về hướng nam và bắc, trong hai cửa giả có hai hình tượng chạm trổ dang dở chưa lên chi tiết, dựa trên hình khối, chúng tôi phỏng đoán đây là những hình “lâu đài bay/flying palace” thường xuất hiện trong kiến trúc thời tiền Angkor, như Sambor Prei Kuk, thế kỷ VII - VIII ở Campuchia; và tháp Hòa Lai (tháp Nam), khoảng giữa thế kỷ VIII, của Champa. Vòm cuốn của cửa giả ở tường bắc cũng chưa hoàn chỉnh, chỉ còn lại một phần; những vòm cuốn trên cửa giả xuất hiện rất phổ biến trong kiến trúc đền - tháp Champa. Chân tháp được trang trí các đường gờ cách điệu của một tòa sen lớn. Tường tháp dày khoảng 100 cm; tường bên trong nội điện có những hốc nhỏ hình tam giác để đặt đèn hay lễ vật, lối thiết kế này thường xuất hiện trong kiến trúc Chàm. Về phía tây của ngôi đền có rất nhiều gạch đổ, có thể đây là gạch từ mái tháp đổ xuống (?!)

Chúng tôi chưa thể xác định ngôi tháp này thuộc kiến trúc Champa, nhưng những chi tiết cấu trúc xuất hiện trên tháp cho thấy nhiều nét tương đồng với kiến trúc Chàm vào thế kỷ VIII - IX. Theo tôi, kiến trúc và bố cục của ngôi đền Ta-nang tỏ ra gần gũi với ngôi đền Prasat Preah Ko ở Thalaborivat, nhưng đền Ta-nang có thể được xây dựng vào một giai đoạn sớm hơn.

Vị trí tọa lạc của ngôi đền Hindu này nói lên nhiều ý nghĩa trong không gian trao đổi hàng hóa và văn hóa giữa Chenla và Champa. Khoảng cách không gian giữa ngôi đền Ta-nang và các di tích Chàm ở Tây nguyên là rất gần gũi; xét về cảnh quan của ngôi đền, xung quanh Ta-nang phải là một nơi thị tứ để trao đổi hàng hóa, ngôi đền tọa lạc ven sông nên rất thuận tiện cho việc đi lại.

Ngôi đền Ta-nang tọa lạc gần như “trung độ” từ duyên hải miền Trung Việt Nam bao gồm các tỉnh Bình Định và Phú Yên ngày nay với các trung tâm trao đổi lớn là An Khê và Ayunpa ở vùng trung du nơi có nhiều di tích khảo cổ học Champa đã được phát hiện. Chúng được kết nối với Stueng Treng trong một không gian văn hóa rộng: từ một trung tâm lớn đến những trung tâm lớn khác về phía đông. Theo GS. Ang Choulien, một nhà nhân học người Campuchia, trước đây, người Jarai ở Rattanakiri giữ độc quyền về buôn bán cồng chiêng và ché cổ trong vùng - đây là những mặt hàng quý phải nhập từ đồng bằng, chúng được dùng trong tất cả các nghi lễ của các tộc người sinh sống trên bán đảo Đông Dương. Có tất cả 15 làng Jarai ở Rattanakiri, họ có mối quan hệ với người Jarai ở Việt Nam, nhưng họ không biết gì về Vua Lửa và Vua Nước ở Ayunpa. (Trao đổi cá nhân với Ang Choulien , tháng 4 năm 2014).

Như vậy, trong quá khứ, cùng tồn tại với Prasat Ta-nang phải có một trung tâm thương mại lớn để trao đổi hàng hóa đã được thiết lập trong vùng lân cận.

Cho đến nay, Prasat Ta-nang là chứng cứ sinh động nhất để chứng minh sự liên kết của con đường giao lưu văn hóa Đông - Tây thông qua mạng lưới trao đổi hàng hóa từ đồng bằng lên miền núi trong giai đoạn sớm, khoảng thế kỷ VIII - X. Xét về mặt kiến trúc của ngôi đền, tự thân nó bộc lộ những đặc điểm thiết kế của một ngôi đền Khmer thời tiền Angkor kết hợp với những đặc điểm của kiến trúc đền - tháp Champa.

Nam Lào - Tỉnh Attapue

Tỉnh Attapue ở Nam Lào, giáp với Đông Bắc Campuchia và chạy dọc theo Tây Nguyên Việt Nam, vị trí ở khoảng N14º20’ - 15º00’ và E106º30’ - 107º35’. Đây là một thung lũng rộng lớn chia cắt bởi hai con sông chính là Sekong và Sekhaman (nghĩa là “Những dòng sông thiêng” do tầm quan trọng lịch sử của chúng). Các đỉnh núi cao của ngọn Phu Luổng, hay Núi Lớn (có nghĩa là “Núi Thiêng”) nằm ở phía tây. Những thung lũng bao gồm các vùng đất bằng phẳng và khá rộng lớn này rất thuận lợi cho việc sản xuất lúa gạo, đồng thời cũng thuận tiện khi nằm kế cận những rặng núi dốc và bình nguyên có chế độ mưa khác nhau và tài nguyên phong phú.

Quy hoạch và cảnh quan sinh học nông nghiệp cổ và kiên định với cảnh quan Khmer có nguồn gốc và truyền thống phát triển từ xa xưa. Đó là sự phân bố ruộng lúa, vườn nhà, vườn tược ở triền đồi, hệ thống vận hành nước, khu vực chăn nuôi, định cư cũng như vị trí các khu vực khai thác và bảo tồn rừng, rất giống với những vùng đất Khmer ở cùng địa hình, mà mô hình này vẫn tồn tại từ xưa đến nay. Kho phân bố và tần suất xuất hiện của các chủng loại thực vật và động vật cũng tương tự. Nhìn chung, khu vực này hoàn toàn tương tự với vùng rừng núi Đông Bắc Campuchia (một phần do có chung vùng núi), nhưng cũng có đôi chút khác biệt về tài nguyên lâm sản. Các chủng loại thủy sản cũng tương tự như ở miền Bắc Campuchia. Mặc dù giữa hai vùng có sự giống nhau về mô hình cấu trúc, phản ánh một phần các yếu tố môi trường “tự nhiên”, môi trường lịch sử (dấu ấn văn hóa và hệ sinh thái cổ xưa tác động lên môi trường) nhưng vùng Attapue rõ ràng là thiên về văn hóa Khmer. Những phương cách tiếp cận môi trường lịch sử bổ trợ sẽ được tiến hành bởi nhóm nghiên cứu, và sau đó kết hợp các dữ liệu lịch sử - dân tộc học và môi trường - dân tộc học với các dữ kiện khảo cổ học (nghĩa là tiếp cận từ hai hướng khác nhau).

Từ Attapue > It-ke-pue có nghĩa là bãi phân trâu theo tiếng Lào. Những thông tín viên địa phương cho biết rằng Attapue trước đây là một vị trí trung tâm trao đổi buôn bán trâu trong khu vực - một bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế - xã hội truyền thống. Các thành viên của dự án cũng đang theo đuổi việc tìm kiếm thêm về địa danh và ngôn ngữ học lịch sử. Những nhà nghiên cứu Campuchia đã tiến hành một nghiên cứu tương tự ở vùng đất Phù Nam truyền thống của Campuchia, và mặc dù từng được kỳ vọng và bộc lộ tiềm năng về các mẫu hình hấp dẫn và bổ ích đã được phát hiện ở Attapue - nêu bật mối quan hệ văn hóa Khmer cổ được lưu truyền trong các địa danh ở Attapue.

Vùng đồng bằng phì nhiêu nơi đây được bồi đắp bởi phù sa từ hai con sông lớn. Nền nông nghiệp lúa nước, vườn nhà, và chăn nuôi gia súc chi phối nền kinh tế địa phương. Cũng có việc khai thác tài nguyên rừng kết hợp với trồng trọt trên đất rừng và canh tác lúa nương. Mật ong chất lượng tốt đặc biệt được khai thác thịnh hành trong khu vực này. Các khu chợ địa phương chứng thực cho sự phong phú và đa dạng các chủng loại động vật hoang dã, thường được dùng làm thực phẩm và dược liệu.

Vùng đất nông nghiệp và lâm nghiệp (khai thác gỗ và trồng trọt) được mở rộng, tạo thuận lợi cho việc phát triển hệ thống cầu đường kết nối Attapue với các vùng khác ở Lào, với Việt Nam về phía bắc và phía đông; cùng với Champasak và Stueng Treng (Campuchia) về phía tây và phía nam. Điều này có tác động rõ ràng đến việc thay đổi nơi cư trú với sự kết hợp của “cư dân miền núi” truyền thống, đặc biệt thường liên quan đến việc du canh du cư. Tuy nhiên, hiện nay, cũng còn có nhiều khu định cư của “cư dân miền núi” nằm rải rác trên khắp vùng này.

Mặc dù có nhiều tộc người thuộc các ngữ hệ khác nhau, nhưng các sắc tộc thuộc hai nhóm ngôn ngữ Katuic và Bahnaric (ngữ hệ Môn - Khmer) là các nhóm sắc tộc thiểu số phổ biến nhất. Thuyền bè tầm trung có thể đi lại được theo các con sông, và thậm chí ở một số khu vực còn thuận tiện cho ghe tàu lớn hơn đi lại.

Như đã trình bày, việc di chuyển từ tỉnh Attapue đến tỉnh Stueng Treng ở Đông Bắc Campuchia bằng đường sông hay đường bộ, hay đến Tây Nguyên Việt Nam bằng những con đường bộ đều rất dễ dàng. Một số đèo thấp cũng tạo điều kiện khá dễ dàng để đi đến duyên hải miền Trung Việt Nam. Có nhiều nhóm sắc tộc khác nhau thuộc các ngữ hệ Môn-Khmer và Malayo-Polynesian thuộc những nhánh tộc người Bahnaric, Katuic và Chamic sinh sống trong khu vực này (Hayashi 2006:13-30). Những tộc người này vẫn còn lưu giữ các mẫu chuyện lịch sử truyền khẩu và các truyền thuyết liên quan đến việc trao đổi, buôn bán sản vật ở vùng này.

Những nghiên cứu thực địa này đã được tiến hành ở tỉnh Attapue vào tháng 7 năm 2009; tháng 7 năm 2010; và tháng 3 năm 2011. Các khảo sát tập trung vào những di tích lịch sử và chùa chiền trong một khu vực có nhiều kiến trúc được liên kết hay được xây dựng kế cận hoặc xây chồng lên trên các di tích khảo cổ học và lịch sử sớm hơn. Hầu hết các di tích này chưa bao giờ được kê khai có hệ thống, thậm chí chưa được nhắc đến trong các tài liệu khác. Nhiều di tích vẫn không được người dân địa phương biết đến. Một số di tích lớn hơn có đặc trưng kiến trúc chỉ được biết là “cổ xưa và biểu trưng cho quyền lực/thiêng liêng”. Khảo sát này cũng tập trung vào các di tích khảo cổ học phát hiện dọc theo hai bên bờ sông Sekong và Sekhaman ở Mường Xaisetha, Mường Samakkhisay, Mường Sanxai và Mường Sanamsay; và ở tỉnh Sekong.

Mường Xaisetha, nằm cách tỉnh lỵ Attapue khoảng 15 km về phía đông. Có một số ngôi chùa cổ tại đây, gồm các chùa Vat That, Vat Si Khun, Vat Luong Kau, Vat Fang Deng, Vat Ong Sen, Vat Nong Y Muong, Vat Xetthaphone. Các chùa này nằm dọc theo hai con sông Sekhaman và Sekong. Hầu hết các ngôi chùa đều cất giữ hay gắn liền với những hiện vật và di tích kiến trúc từ thời tiền Angkor cho đến hậu Angkor. Cảnh quan có vẻ được chỉnh sửa theo tính cách Khmer truyền thống; chẳng hạn một số trapeang (ao vuông lớn) và hồ nước đã được ghi nhận.

Vat That, ở bản Vat That, mường Xaisetha là một ngôi chùa Phật giáo lớn nằm ở bờ nam sông Sekhaman (N14º48.702’ và E106º56.518’). Chùa còn lưu giữ một số lượng lớn gạch xưa; một bệ đá hình vuông thời tiền Angkor (39 x 39 x 20 cm) có niên đại khoảng thế kỷ thứ VIII - IX; và những mảnh vỡ của một tượng Phật bằng sa thạch, khoảng thế kỷ thứ XVI - XVII, gồm đầu, cánh tay, các mảnh thân và chân ngồi theo tư thế padmāsana (tư thế hoa sen) (dài 175 cm). Các hiện vật này cung cấp những thông tin quý giá về thời kỳ xa xưa và việc sử dụng di tích này đã trải dài từ thời kỳ tiền Angkor cho đến hậu Angkor.

Vat Si Khun, ở bản Vat That, mường Xaisetha, nằm ở phía trước Vat That. Hai gò gạch cổ lớn có khả năng là di tích nền móng của các công trình kiến trúc cổ.

 Vat Luong Kau, ở bản Vat Luong, mường Xaisetha là một ngôi chùa cổ bằng gỗ nằm gần Vat That (N14º 48.587’ và E106º56.384’). Di tích này còn tồn tại các ngôi tháp /stupa bằng gạch xưa; hai bàn chân đứng trên một bệ tròn của một tượng đồng thời kỳ Angkor thế kỷ thứ XII/XIII đã bị vỡ; một pesani /đá mài thế kỷ thứ XII/XIII (dài 32 cm). Ngoài ra, chúng tôi cũng phát hiện được một bức phù điêu Phật giáo bằng đá thuộc thế kỷ thứ XVI/XVII, cao khoảng 120 cm; đây là bức chạm thể hiện chủ đề Chakravatin (Chuyển Pháp Vương) được các nhà lịch sử nghệ thuật đánh giá là một tác phẩm rất quý hiếm trong nghệ thuật Phật giáo Đông Nam Á.

Vat Fang Deng, ở bản Fang Deng, mường Xaisetha nằm ở bờ bắc sông Sekhaman (N14º48.610’ và E106º56.025’). Đó cũng là một ngôi chùa Phật giáo lớn còn lưu giữ những bộ phận quan trọng của kiến trúc thời tiền Angkor, gồm một lanh-tô thuộc phong cách Prei Khmeng, thế kỷ thứ VIII, khắc hình Chim thần Garuda mặt người (220 x 90 x 15 cm); hai mảnh vỡ của những di tích kiến trúc với chạm khắc hoa lá phong phú hình tròn (22 x 39 cm và 23 x 22 cm); và một pho tượng voi bằng gạch thuộc thế kỷ thứ 8 (110 x 50 cm).

Vat Ong Sen, ở bản Sakhe, mường Xaisetha nằm ở bờ đông sông Sekong, cách tỉnh lỵ Attapue khoảng 30 km về phía bắc (N14º56.516’ và E106º53.021’). Đây là một di tích quan trọng bao gồm một số lượng lớn các hiện vật kiến trúc và một hệ thống ao hồ (baray/trapeang) nhỏ ở vùng phụ cận (Hình 8). Những hiện vật kiến trúc gồm một ống máng, các nền đá vuông, bệ, các nền móng bằng đá ong, các khối trang trí kiến trúc, nhiều lớp đá. Gạch lớn (30 x 15 x 6 cm và 27 x 16x 7 cm). Hiện vật đáng chú ý nhất là một lanh-tô thuộc Phong cách Prei Khmeng, thế kỷ thứ VIII (214 x 79 cm) (Hình 9). Các chứng cứ kết hợp này có sức thuyết phục rằng một ngôi đền Khmer lớn xây bằng đá ong, gạch và sa thạch, đã từng tồn tại nơi đây cùng với một hệ thống baray/trapeang.

Các di tích khảo cổ học Vat Ong Sen và vùng phụ cận có thể đã được tiếp tục xây dựng, tân trang và duy trì trong một thời gian dài từ thời kỳ Tiền Angkor đến thời kỳ Angkor, trong suốt thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ XII - XIII. Do đó, địa điểm này có thể đã là một trung tâm chính trị - xã hội và thương mại nổi bật trong vùng vào các thời kỳ này.

Vat Nong Y Moung, ở bản Sakhe, mường Xaisetha nằm ở vùng phụ cận Vat Ong Sen (N14º56.477’ và E106º53.125’). Di tích này gồm có hai thanh khung cửa bằng sa thạch (152 x 76 x 22 cm và 90 x 76 x 22 cm); và một hệ thống baray/trapeang hay hồ chứa nước có dạng hình vuông. Hồ chứa nước được xây bằng gạch, sa thạch và những lớp phủ ngoài bằng đá ong và những khắc họa khác, đến nay vẫn còn được người dân địa phương sử dụng.

Vat Xetthaphon, ở bản Kengsay, mường Xaisetha (tên cũ của vùng này là Mường Sung) nằm ở khu vực bờ tây sông Sekong (N15º04.912’ và E106º50.354’), xa hơn về phía bắc Vat Ong Sen. Các di tích xây dựng bằng sa thạch, gạch và đá ong vẫn còn sót lại ở một số địa điểm. Di tích này có khả năng thuộc thời kỳ Angkor. Có những bậc đá cao dẫn từ sông lên di tích này.

Mường Samakkhisay, là địa điểm đặt tỉnh lỵ của tỉnh Attapue (N14º48.354’và E106º50.144’). Có một số di tích kiến trúc được phát hiện trong khu vực này ở Vat Khum Kham, Bản Sok/Soat.

Vat Khum Kham, thuộc Bản Khum Kham, Mường Samakkhisay (trước 1998, vùng này thuộc về Mường Xaisetha) nằm ở khu vực bờ tây sông Sekong, gần chân núi Phu Luổng hay Núi Lớn, và cách tỉnh lỵ Attapue khoảng 40km về phía bắc (N15º04.971’ và E106º50.296’). Đây là một di chỉ khảo cổ học rộng lớn lưu giữ một số hiện vật điêu khắc và kiến trúc đặc trưng của thời Tiền Angkor, khoảng thế kỷ thứ VIII - IX, gồm hai phiến đá bậc thềm (moonstone) (136 x 70 x 20 cm) và (125 x 90 x 23 cm); một somasutra hay máng nước (151 x 30 x 20 cm); một bệ đá hình vuông (52 x 52 x 52 cm); hai thanh khung cửa rộng (160 x 83 x 23 cm và 174 x 55 x 25 cm); hai mảnh yoni (39 x 36 x 15 cm và 32 x 33 x 15 cm); một số lượng lớn gạch (31 x 16x 8 cm); và những tảng đá ong (42 x 26 x 17 cm).

 Bản Sok/Soat, thuộc mường Samankhisay (trước 1998, vùng này thuộc về mường Xaisetha) nằm ở bờ tây sông Sekong, cách Vat Khum Kham khoảng 03 km về phía nam, đối diện với Vat Xetthaphone ở bờ đông con sông. Các di tích bằng gạch và đá ong thuộc một công trình kiến trúc còn sót lại. Di tích này vẫn được người địa phương tôn thờ và dâng lễ vật. Bản Sok là một ngôi làng của người Oy, một tộc người nói tiếng Môn-Khmer.

Mường Sanxai, tại Bản Takhum là nơi cư trú của bộ tộc người Lave, một tộc người thuộc ngôn ngữ Môn-Khmer. Chúng tôi phát hiện được một bức phù điêu thuộc Bà-la-môn giáo (Brahmanist Stele) bằng sa thạch còn hoàn chỉnh, thuộc một phế tích nằm trong rừng ở thượng nguồn sông Sekhaman. Bức phù điêu thể hiện ba vật tượng trưng cho Tam vị nhất thể (Trimurty) của Bà-la-môn giáo/Ấn giáo trên một con rùa; đó là một kamandalu (bình nước thiêng) với một aksamala (chuỗi tràng hạt) và một bông sen của thần Brahma ở bên trái; một trisula (đinh ba) của thần Siva ở giữa; và một cakra (cái đĩa) của thần Visnu ở bên phải. Bức phù điêu có kích thước 83 x 70 x 14 cm.

Đây là một tác phẩm độc đáo thể hiện hình tượng Bà-la-môn giáo ở Lào. Bức phù điêu này có thể định niên đại vào thế kỷ thứ VII khi được đối chiếu với các mẫu vật tương tự khác có cùng khuôn mẫu chung phát hiện trong nền điêu khắc Khmer. Tuy nhiên, trong số các mẫu vật này, đây là tấm bia duy nhất thể hiện hình con rùa (Jessup và Zéphir 1997:165-76). Di tích này cách tỉnh lỵ Attapue khoảng 45 km về phía đông bắc (N14º52.310’ và E107º05.500’).

Mường Xanamxay, nằm cách tỉnh lỵ Attapue khoảng 35 km về phía nam, nơi nhánh chính của sông Sekong từ tỉnh Attapue chảy về ngang qua Nam Lào đến tỉnh Stueng Treng (hay Xiêng Tẻng trong ngôn ngữ Lào) ở Đông Bắc Campuchia. Thủy lộ ở khúc này của dòng sông thì sâu và đằm, không đột ngột xuất hiện các thác nước hay dòng chảy mạnh, vì thế rất thuận tiện cho việc vận chuyển xuôi ngược dòng sông bằng ghe thuyền. Người dân địa phương ở Bản Hatngao (nằm không xa biên giới) kể với chúng tôi rằng trước đây chỉ mất sáu đến bảy ngày để đi thuyền chèo từ Attapue/Xaisetha đến Stueng Treng. Vào đầu thế kỷ 20, tàu hơi nước của Pháp đã từng chạy trên sông Sekong; chỉ mất bốn ngày để đi từ Stueng Treng đến Attapue (Maitre 1912:366).

Cho đến đầu thế kỷ 20 vẫn còn các hoạt động thương mại kết nối cư dân và hàng hóa giữa hai trung tâm này. Người dân địa phương cho biết rằng gia đình họ đã từng giao dịch buôn bán các loại sản vật với những thương nhân (phần lớn là người Chăm [?!]) đến từ Xiêng Tẻng/Stueng Treng, như ngà voi, da cá sấu, da hươu, da rắn, mai rùa, song mây, gỗ, muối,… Ngày nay, cư dân địa phương vẫn thường tổ chức thông hôn trong các dòng họ giữa hai trung tâm này.1 Phần lớn người dân ở Xiêng Tẻng có thể nói cả hai ngôn ngữ Lào và Khmer.

Về mặt địa lý và dân tộc học, các mối quan hệ rất gần gũi giữa Attapue và Stueng Treng là những chỉ dấu tuyệt vời về mối liên kết trước đây giữa hai trung tâm này. Mỗi một trung tâm nên được hiểu là một mường, đơn vị chính trị - xã hội như một nước/quận huyện/khu vực, được cai trị bởi một chậu mường (patau muong?), một thủ lĩnh/lãnh chúa của một mường (Maitre 1912:455; Stuart-Fox 2002:1-6).

Tỉnh Sekong, có một di tích của một công trình bằng gạch khác ở vùng xa nhất có tên Nang Ka Dam (Cô Quạ trong ngôn ngữ Alak, một nhóm sắc tộc thuộc ngữ hệ Môn-Khmer) ở Bản Nang Dzon (Cô Sáo trong ngôn ngữ Alak), mường Kalam, tỉnh Sekong. Nơi đây nhóm nghiên cứu chỉ nhận dạng được một gò bằng gạch (8 x 6m; với những viên gạch có kích cỡ 28 x 13 x 6,5 cm), và cũng có những bậc đá dẫn từ sông lên khu di tích này. Di tích này ở phía tây sông Sekong, cách tỉnh Attapue khoảng 80 km về phía bắc; đây là di tích Khmer xa nhất về phía bắc được phát hiện trên sông Sekong ở vùng Nam Lào.

Cần ghi nhận rằng thủy đạo của sông Sekong ở phần phía bắc tỉnh Attapue từ Bản Sok và Bản Sakhe lên đến mường Lamam của tỉnh Sekong có phần khó di chuyển bằng thuyền cỡ vừa hay lớn hơn. Chỉ có ca-nô hay ghe thuyền nhỏ hoặc thuyền độc mộc mới có thể đi lại trên thủy đạo này vì có nhiều đá ngầm và gềnh thác (Maitre 1912:366).

Di tích Champa ở Tây Nguyên Việt Nam, có nhiều di tích Chàm đã được phát hiện ở Tây Nguyên có niên đại từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XIII - XIV, như di tích Kon Klor ở tỉnh Kon Tum, nơi vẫn còn các đặc trưng kiến trúc của một ngôi đền và một bi ký bằng đá ghi nhận sự thờ phượng Bồ tát Quán thế âm Avalokitesvara, của một thủ lĩnh địa phương tên Mahindravarman vào năm 914 (Hickey 1982:91-3); một bức tượng Siva bằng sa thạch vào thế kỷ thứ XIV - XV cũng được phát hiện gần thành phố Kon Tum hiện trưng bày ở Bảo tàng Guimet tại Paris (Baptist và Zéphir 2005:324-5); và một bức tượng Siva hoàn hảo khác thuộc thế kỷ thế XIV - XV được tìm thấy ở tháp Yang Mum, vùng Ayunpa, thuộc tỉnh Gia Lai, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng [Ký hiệu: 3.16] (Hickey 1982:93-8; Baptist và Zéphir 2005:326-7).

Có một ngôi đền gạch đáng chú ý là Yang Prong tại huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk gần thượng nguồn sông Ya Hleo kết nối với sông Srê Pok về phía tây nam; ngôi tháp Chàm này thuộc thế kỷ thứ XIII - XIV, hiện trạng còn rất tốt, tọa lạc trong một ngôi làng của người Jarai (Hickey 1982:98-107). Đáng lưu ý là, đây là ngôi tháp Chàm được dựng trong vùng xa nhất của Tây Nguyên; về phía tây của vùng này, hầu hết di tích kiến trúc đều thuộc văn hóa Khmer, chúng phân bố rải rác cho đến tận Bản Lung thuộc tỉnh Rattanakiri ở Đông Bắc Campuchia, chẳng hạn ngôi đền Ta-nang mà chúng tôi đã trình bày ở trên.

Gần đây, vào tháng 6 năm 2010, tại di tích Bang Kheng, lưu vực sông Ayunpa thuộc tỉnh Gia Lai, các nhà khảo cổ Việt Nam đã khai quật được những đầu ngói ống kiểu thức kiến trúc Trung Hoa thuộc thế kỷ thứ III - IV tại một phế tích đền gạch nhỏ ở thượng nguồn sông Ayunpa/Ba; loại hình đầu ngói ống này đã từng phát hiện phổ biến trước đây tại các di tích Chàm ở Trà Kiệu (Quảng Nam) và Thành Hồ (Phú Yên). Đầu ngói ống được khai quật tại di chỉ Bang Kheng đã cho biết đây là là di tích có những ảnh hưởng của kiến trúc Trung Hoa xa nhất được tìm thấy ở Tây Nguyên vào thời kỳ sớm (Nguyễn Quốc Mạnh 2010; Yamagata & Nguyễn 2010: 194-205).

Xa hơn, về phía bắc Tây Nguyên, tại huyện Tây Giang (Hiên) thuộc tỉnh Quảng Nam, cũng có những văn khắc trên các vách đá nằm bên trong các làng của người Katu. Văn khắc này xác định mối quan hệ mật thiết giữa hoàng gia Champa với các sắc tộc thiểu số miền núi đã được thiết lập từ thế kỷ thứ VII (Wittayarat 2004-05:14-7).

Tất cả các di tích Chàm tìm thấy ở Tây Nguyên đều nằm trong các bản làng của các sắc tộc khác nhau thuộc các nhóm ngôn ngữ Katuic, Bahnaric hay Chamic (người Jarai). Chúng được xem là những trung tâm kinh tế và chính trị ở vùng sâu miền núi được kết nối với các tiểu quốc cảng-thị (port-polities) của (các) vương quốc Champa đã được thành lập dọc theo duyên hải miền Trung Việt Nam (Tran Ky Phuong 2010:207-15).

Kết luận sơ bộ

Những di tích khảo cổ học được quan tâm trong thời gian qua ở tỉnh Attapue, Nam Lào, bao gồm một số di tích kiến trúc bằng gạch và đá ong; các hiện vật điêu khắc bằng sa thạch (thí dụ như các bức phù điêu, tượng, bệ thờ…); các vật trang trí kiến trúc bằng sa thạch; những baray/trapeang đơn và kép (nghĩa là những hệ thống thủy lợi); các gò gạch phân bố rải rác. Chúng có khả năng là những phế tích của các trung tâm tôn giáo kết hợp chặt chẽ trong các đơn vị hành chính, kinh tế và xã hội (đó là những khu chợ thường xuyên và chợ phiên). Người ta có thể kỳ vọng tìm thấy nhiều kiến trúc tôn giáo ở trung tâm các hoạt động kinh tế - xã hội, mặc dù thường thì vị trí của chúng có thể xa cách vì nhiều lý do khác nhau. Điều cần tranh biện ở đây là chúng đã tọa lạc ở những trọng điểm giao dịch về mặt kinh tế hay ít ra cũng là đại diện, nếu không là một phần quan trọng của các hoạt động kinh tế, đặc biệt là việc trao đổi hàng hóa/sản vật từ vùng sản xuất này đến vùng sản xuất khác tùy theo phương tiện giao thông và các tụ điểm phân phối.

Về mặt khảo cổ học cảnh quan (landscape archaeology), việc phân phối và dạng thức của các di tích kiến trúc được khảo sát vừa qua ở tỉnh Attapue cùng với các di tích khảo cổ học nổi bật khác đã được phát hiện ở vùng Đông Bắc Campuchia (École franşaise d’Extrême-Orient et Ministère de la culture et des beaux-arts 2006; Davis 2001-05) đã gợi ra một hệ thống giao thương bằng đường thủy và đường bộ gắn liền với những con sông đáng chú ý (sông Mekong và các phụ lưu, các sông Sekong, Sesan và Sre Pok). Những con đường này kết nối vùng Đông Bắc Campuchia với Nam Lào, và từ đó đến Tây Nguyên Việt Nam qua suốt các thời kỳ lịch sử từ thế kỷ thứ VIII về sau. Các con đường bộ ngang qua một số ngọn đèo có thể dễ dàng kết nối với các tiểu quốc Champa dọc theo bờ biển phía Đông, một vùng tài nguyên quan trọng và hoàn toàn khác biệt. Sự tương tác và trao đổi có thể tạo lợi ích đáng kể cho các cư dân ở hai phía các rặng núi và những người trung gian. Có vẻ như chúng được nối kết thông qua các mường được lập nên dọc theo con đường hoàng gia kết nối đế chế Khmer với (các) vương quốc Champa. Thêm một giả thuyết rằng nhiều nhóm sắc tộc thiểu số đã đóng những vai trò quan trọng trong mối tương tác giữa người Chàm gốc Nam Đảo/Austronesian với các thể chế Tiền Angkor và Angkor gốc Môn-Khmer. Thời kỳ hình thành này có thể mở rộng lùi lại một thời gian xa hơn nếu nó so sánh vùng châu thổ ở Campuchia với những nối kết mạnh mẽ trong một hệ thống những vệ tinh trao đổi bán - toàn cầu như được minh chứng qua những mặt hàng phi địa phương bằng kim loại và thủy tinh (đặc biệt là hạt cườm/mã não vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương), trống đồng Đông Sơn và các di vật khác, bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ I trước Công Nguyên. Các vết tích tồn lưu của hệ thống trao đổi này vẫn còn hiện hữu.

Tỉnh Stueng Treng/Xieng Teng đã là trung tâm chính kết nối vùng Đông Bắc Campuchia với Tây Nguyên Việt Nam bằng con đường sông Sesan có thể thông qua tộc người Jarai, một nhóm sắc tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Họ có hai vị vua huyền bí là Vua Lửa (Patau Apui) và Vua Nước (Patau Ia) mà các vương triều Khmer trước đây đã phải cử sứ thần trao tặng lễ vật hàng năm (Maitre 1912:450-55; Dournes 1977: 9-42; Hickey 1982:121-43). Theo một tư liệu viết bằng tiếng Khmer cổ vào năm 1601, chúng ta biết được rằng các vua Khmer trước kia đã hình thành một liên minh với Vua Lửa và Vua Nước để phòng thủ bờ cõi phía Đông của đế chế Khmer (Tranet 1983: 75-107).

Những nhà nhân học giả định rằng những vị vua huyền bí của người Jarai là những thủ lĩnh của một hệ thống liên làng, được liên kết để bảo vệ và chiến đấu chống kẻ thù trong các cuộc chiến tranh dài ngày; và/hoặc để kiểm soát một hệ thống trao đổi hàng hóa đường dài mang tính thường xuyên (Nguyễn Từ Chi 1996: 453-55, chú thích 15). Ngoài ra, cũng có giả thuyết rằng, Vua Lửa và Vua Nước là một thể thức chính trị đặc thù của người Jarai được tạo nên để giữ cân bằng trong mối quan hệ kết nghĩa anh em với vua Khmer và Champa. Làm như vậy, người Jarai giữ được đặc tính văn hóa truyền thống của họ trong mối quan hệ với hai vương quốc láng giềng lớn mạnh hơn (Hardy 2013: 101-03).

Cũng nên lưu ý rằng Stueng Treng và một phần Tây Nguyên (bao gồm các tỉnh Kon Tum và Đắk Lắk ngày nay) đều thuộc các vương quốc Lào mãi đến 1904 - 1905; và Attapue có khả năng nằm dưới sự bảo hộ của mường Champasak (Archaimbault 1961; Breazeale 2002:319-20, Fig.5).

Bản đồ dưới đây dựa trên những di tích khảo cổ học và dân tộc học để tạo lập một hệ thống khả thi của các con đường bộ xưa kia trong mối liên kết giữa các trung tâm/mường chính trị và thương mại chính yếu liên quan đến các tộc người sử dụng ngôn ngữ Môn-Khmer và Mã Lai Đa Đảo (Malayo-Polynesian) ở Campuchia, Lào và miền Trung - Tây Nguyên Việt Nam. (Hình 14)

Những nghiên cứu sâu hơn về địa dư (thời cổ, lịch sử và hiện đại) và phương thức kết nối của bản đồ này hiện đang được tìm tòi/thử nghiệm. Đây là một bản đồ năng động có thể thay đổi và trình bày một mối tương tác đáng quan tâm hơn là tách biệt cho tất cả các đầu mối/trung tâm trao đổi và các nền văn hóa khác nhau qua suốt một thời kỳ dài trong lịch sử.

CHÚ THÍCH

  1 Phỏng vấn ông Khâm Liểng, 70 tuổi, ở bản Hatngao, Mường Sanamsay ngày 09 tháng 7 năm 2010.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Archaimbault, Ch.. 1961. ‘L’histoire de Cămpasăk’, Journal Asiatique, No. CCXLIX-4. 1961: 519-95.

2. Baptist, P. and Thierry Zéphir, (eds.). 2005. Trésors d’art du Vietnam: la sculpture du Champa, V-XV siècles. Paris: Guimet, musée national des arts asiatique.

3. Breazeale, K. 2002. “Laos mapped by treaty and decree, 1895 – 1907”, in Mayoury Ngaosrivathana and Kennon Breazeale (eds.). Breaking new ground in Lao history: Essays on the seventeenth to twentieth centuries. pp.297 - 336. Chiang Mai: Silkworm Books.

4. Davis, Bertell (ed.). 2001-05. Unpublished preliminary research reports and field notes in Stueng Treng Province. East Cambodian Archaeological Survey (ECAS), NAGA Research Group (Bertell Davis, Bion Griffin, Mike Dega, Kyle Latinis, Andy Cowan, Phon Kaseka).

5. Dournes, Jacques. 1977. Pötao: une théorie du pouvoir chez les indochinois Jörai. Paris: Flammarion.

6. École franşaise d’Extrême-Orient et Ministère de la culture et des beaux-arts, 2006, Carte Archéologique du Cambodge Bassin du Mekong, provinces de Stoeng Treng, Krâtie, Ratanak Kiri. Phnom Penh.

7. Jessup, H. and Thierry Zéphir (eds.). 1997. Sculpture of Angkor and Ancient Cambodia. Millennium of Glory. Washington: National Gallery of Art.

8. Hardy, Andrew. 2013. Nhà nhân học chân trần: Nghe và đọc Jacques Dournes. Hà Nội: Tri Thức.

9. Hayashi, Yukio. 2006. “Inter-Ethnic Relations in Perspective: A Case from Southern Laos”. Isan Studies Journal 2549(2006):13-30.

10. Hickey, G. 1982. Sons of the Mountains: Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands to 1954. New Haven and London: Yale University Press.

11. Maitre, H. 1912. Les Jungles Moï, Exploration et histoire des hinterlands moï du Cambodge, de la Cochinchine, de l’Annam et du Laos. Paris: Published by Emile Larose.

12. Nguyễn Quốc Mạnh. 2012. “Khai quật di tích kiến trúc Bang Kheng (Gia Lai)’. Khảo Cổ Học. Số 6: 57-70. Hà Nội: Viện Khảo cổ học.

13. Nguyễn Từ Chi. 1996. Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người. Hà Nội: Văn hóa Thông tin.

14. Stuart-Fox, M. 2002. “On the writing of Lao history: continuities and discontinuities”, in Mayoury Ngaosrivathana and Kennon Breazeale (eds.). Breaking new ground in Lao history: Essays on the seventeenth to twentieth centuries. pp.1-24, Chiang Mai: Silkworm Books.

15. Tranet, Michel. 1983. “Etude sur la Savatar vatt Sampuk”. Seksa Khmer (EtudesKhmeres), No. 6, 1983, pp.75-107. Paris: Cedoreck.

16. Tran Ky Phuong. 2010. “Interactions between uplands and lowlands through the ‘riverine exchange network” of central Vietnam- A case study in the Thu Bon river valley’, in Bérénice Bellina, Elisabeth A. Bacus, Thomas Oliver Pryce & Jan Wisseman Christie (eds.), 50 years of archaeology in Southeast Asia: Essays in honour of Ian Glover. pp.207-15, Bangkok: River Books.

17. Wittayarat, Daoruang. 2004-05. “Les inscription rupestres de Samo (inédites): un tentative de déchiffrement, de traduction et de datation”. Lettre de la Société des Amis du Champa Ancien 11:14-7. Paris: Société des Amis du Champa Ancien (SACHA).

18. Yamagata, Mariko and Nguyen Kim Dung. 2010. “Ancient roof tiles found in Central Vietnam”, in Bérénice Bellina, Elisabeth A. Bacus, Thomas Oliver Pryce & Jan Wisseman Christie (eds.), 50 years of archaeology in Southeast Asia: Essays in honour of Ian Glover. pp.194-205. Bangkok: River Books.

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
Tin đọc nhiều
43.544 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
21.604 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
20.833 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
19.347 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
16.836 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
15.059 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p