8:06 27/02/2015
Cỡ chữ

TS. TRẦN DU LỊCH

Phó Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh,

Trưởng Nhóm Tư vấn hợp tác phát triển Vùng duyên hải miền Trung

 THS.NCS. ĐẶNG ĐÌNH ĐỨC

Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng,

 Nghiên cứu sinh Đại học Kinh tế Huế - Đại học Huế.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đã được Chính phủ đặt ra trong nhiều năm qua[1] nhưng thiếu một hệ thống chính sách đồng bộ để dẫn dắt thị trường nên hệ quả là sự thất bại của nhiều ngành công nghiệp trong việc thu hút đầu tư và phát triển thị trường CNHT. Ngày 24.12.2011, Thủ tướng ban hành Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ[2], nhưng nội dung và địa vị pháp lý của Quyết định này chưa đủ sức để thực hiện mục tiêu phát triển như nền kinh tế đang đòi hỏi. Do vậy, công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam chỉ được xem như mới bắt đầu (thậm chí, có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam chưa có CNHT).

Chủ trương tái cấu trúc và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu và khu vực là chủ trương lớn của Đảng (Đại hội XI). Một trong các mục tiêu phải đạt được là: chuyển nền công nghiệp từ gia công sang sản xuất; từ xuất khẩu sản phẩm thô sang chế biến, tạo môi trường cho các doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, tham gia sâu rộng vào chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu. Do đó, vấn đề khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ, hình thành các “cụm liên kết sản xuất - cluster” đang là vấn đề cần ưu tiên trong việc hoàn thiện mô hình phát triển và hoàn thành mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm 2020.

2. Nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (VKTTĐMT), KKT mở Chu Lai tỉnh Quảng Nam là nơi tập trung hàng loạt các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp cơ khí, điển hình là Nhà máy ôtô Trường Hải, doanh nghiệp lắp ráp và sản xuất ôtô hàng đầu Việt Nam. Việc phát triển một khu công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí tại KTT mở Chu Lai tỉnh Quảng Nam là hết sức cần thiết.

II. TỔNG QUAN VỀ KHU KINH TẾ MỞ CHU LAI, TỈNH QUẢNG NAM

KKT mở Chu Lai được thành lập tại Quyết định số 108/2003/QĐ-TTg ngày 05.6.2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập và ban hành quy chế hoạt động của KKT mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam. Theo quy hoạch, KKT mở Chu Lai rộng 42.000 ha, gồm 14 xã phường, thị trấn thuộc huyện Núi Thành và thị xã Tam Kỳ, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp Tam Mỹ và Tam Thanh, phía nam giáp huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi), phía bắc giáp huyện Thăng Bình (Quảng Nam).

KKT mở Chu Lai phát triển theo mô hình khu kinh tế tổng hợp, lấy công nghiệp cơ khí làm trung tâm, kết hợp với phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, điện tử, công nghiệp có kỹ thuật cao; đồng thời tập trung phát triển các ngành dịch vụ du lịch, thương mại, đô thị, vận tải hàng hóa và hành khách quốc tế… với định hướng đến năm 2020 trở thành khu vực phát triển năng động, một trung tâm công nghiệp - du lịch, dịch vụ và là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực miền Trung và cả nước.

Sau 10 năm ra đời, về cơ bản KKT mở Chu Lai đã hình thành được một hệ thống giao thông kết nối quan trọng bao gồm: cảng biển, đường bộ, sân bay… đủ điều kiện phục vụ hoạt động xuất khẩu, vận chuyển sản phẩm đến các thị trường, các trung tâm tiêu thụ trong và ngoài nước (trong đó đặc biệt ưu thế về vận tải bằng đường biển). Đến nay, KTT mở Chu Lai đã có 5 khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 4.500 ha, bao gồm: Bắc Chu Lai, Tam Anh, Tam Hiệp, Tam Thăng và An Phú. Trong đó, 3 KCN đã đi vào hoạt động: KCN Bắc Chu Lai giai đoạn 1 đã lấp đầy 90% và đang khai thác giai đoạn 2, KCN Tam Hiệp giai đoạn 1 cũng đã lắp đầy khoảng 60%, KCN cơ khí ô tô Trường Hải đã lắp đầy 100%. Tính đến cuối tháng 11.2014, tổng số dự án đầu tư tại Khu kinh tế mở Chu Lai là: 92 dự án với tổng vốn đăng ký 1.434 triệu USD, trong đó: 70 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 1.270 tỷ USD và 22 dự án nước ngoài với tổng vốn đăng ký 163,684 triệu USD. Trong đó có một số dự án quy mô lớn như Khu liên hợp cơ khí ô tô Chu Lai - Trường Hải; Nhà máy kính nổi Chu Lai; Nhà máy sô đa Chu Lai, Nhà máy sản xuất linh kiện điện tử CCI Việt Nam…

III. PHÂN TÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP KHU CNHT NGÀNH CƠ KHÍ TẠI KKT MỞ CHU LAI, TỈNH QUẢNG NAM.

1. Điều kiện thuận lợi

- Tỉnh Quảng Nam có vị trí địa lý rất thuận lợi để xây dựng Khu CNHT tại KKT mở Chu Lai nhờ nằm trọng tâm trong VKTTĐMT, xung quanh có nhiều đô thị lớn như Huế, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Quy Nhơn,… và dễ dàng tiếp cận với hàng loạt các KKT, KCN, KCNC lớn trong Vùng như KKT Chân Mây - Lăng Cô, KCNC Đà Nẵng, các KCN ở Đà Nẵng, KKT Dung Quất, KKT Nhơn Hội… Bên cạnh đó, VKTTĐMT còn là cửa ngõ của cả nước cũng như của các quốc gia trong tiểu vùng sông Mê Kông và khu vực châu Á - Thái Bình Dương, vì vậy rất thuận lợi để mở rộng giao lưu kinh tế với các nước Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanmar và xa hơn nữa là các nước Nam Á và Tây Nam Trung Quốc qua các trục Hành lang Đông - Tây và các đường 9, đường 14, đường 24, đường 19…

- Về diện tích và quỹ đất dự phòng cho phát triển CNHT ngành cơ khí: KKT mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam hiện có quỹ đất đủ rộng để phục vụ cho việc hình thành khu CNHT ngành cơ khí tại đây với quy mô diện tích đất được quy hoạch là 1.715 ha và có thể mở rộng thêm khoảng 700 ha (về hướng Tây Bắc) tùy theo nhu cầu thực tế trong tương lai. Hơn thế nữa, theo nhiều báo cáo khoa học mang tính nghiên cứu độc lập thì địa chất tại Chu Lai rất tốt. Vì vậy, việc xây dựng nhà máy, đầu tư cơ sở hạ tầng tại KKT mở Chu Lai sẽ có chi phí thấp nhất trong tương quan so sánh với các vùng, khu vực khác.[3]

- Về cơ sở hạ tầng: KKT mở Chu Lai hiện đã được đầu tư đồng bộ gồm hạ tầng giao thông, cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải và chất thải rắn đảm bảo phục vụ các dự án đầu tư; hạ tầng xã hội gồm trường học, bệnh viện… đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của nhà đầu tư.

+ Đường bộ và đường sắt: KKT mở Chu Lai nằm trên trục giao thông chính của quốc gia với hệ thống đường bộ và đường sắt Bắc - Nam; ngoài ra còn có đường Nam Quảng Nam nối KKT mở Chu Lai với đường Hồ Chí Minh và Cửa khẩu quốc tế Bờ Y - Kon Tum; đường cao tốc Đà Nẵng - Dung Quất đang triển khai xây dựng sẽ rút ngắn thời gian từ Chu Lai đi Đà Nẵng và từ Chu Lai đi Quảng Ngãi.

+ Đường biển: cảng Kỳ Hà là một cảng kín, nằm gần tuyến hàng hải quốc tế Bắc - Nam có khả năng tiếp nhận tàu tải trọng 10.000 tấn; hiện đang đầu tư nâng cấp và mở rộng để đón tàu tải trọng 20.000 tấn. Ngoài ra còn được hỗ trợ bởi cảng nước sâu Đà Nẵng ở phía bắc và cảng Dung Quất về phía nam.

+ Đường hàng không: sân bay Chu Lai nằm trên địa bàn KKT mở Chu Lai và tiếp giáp với KKT Dung Quất, là một sân bay lớn với diện tích trên 2.000 ha, cách sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội) và Tân Sơn Nhất (Hồ Chí Minh) khoảng 01 giờ bay, trong tương lai đã được định hướng để phát triển thành sân bay quốc tế Chu Lai. Bên cạnh đó còn có sự hỗ trợ từ cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng.

- Về dung lượng thị trường: với vị thế là trung điểm của VKTTĐMT, hiện nay KKT mở Chu Lai tỉnh Quảng Nam đã có sẵn một thị trường đầy tiềm năng là Khu phức hợp sản xuất và lắp ráp ôtô Chu Lai - Trường Hải. Mở rộng ra trong bán kính 100 km còn có các KCN, Khu Công nghệ cao Đà Nẵng ở phía bắc và KKT Dung Quất ở phía nam... Đây đều là các thị trường có nhu cầu rất lớn đối với CNHT đặc biệt là các CNHT ngành cơ khí chế tạo, lắp ráp ô tô hay các ngành CNC. Mặt khác, do lĩnh vực sản xuất linh phụ kiện cũng như các công đoạn chế tạo tại Việt Nam đang trong giai đoạn đầu phát triển, còn thiếu và yếu, vì vậy nhu cầu về CNHT ở Việt Nam còn rất lớn.

- Là trung tâm khoa học, kỹ thuật mạnh nhất của khu vực duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, Đà Nẵng - Huế - Quy Nhơn đang có nhiều thuận lợi trong việc đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao nhờ vào khả năng đào tạo tại chỗ của hệ thống các cơ sở đào tạo đóng trên địa bàn các địa phương và khả năng thu hút lao động giỏi từ các địa phương khác đến. Bên cạnh đó, Trường Cao đẳng Nghề Trường Hải được các nhà đầu tư đánh giá khá cao, đặt nền tảng quan trọng cho nguồn nhân lực CNHT ngành cơ khí tại KKT mở Chu Lai.

2. Điều kiện bất lợi

- KTT mở Chu Lai nằm trong khu vực duyên hải miền Trung với thời tiết khắc nghiệt, mưa bão thất thường, lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra, môi trường tự nhiên diễn biến ngày càng xấu.

- Thị trường nội địa của CNHT ngành cơ khí dựa vào các doanh nghiệp cơ khí hạ nguồn còn kém phát triển, số lượng doanh nghiệp cơ khí lớn còn rất ít, và đa phần đã có nguồn cung ứng đầu vào từ trước. Tuy nhiên, mở rộng thị trường và chủ động sản xuất trong nước vẫn là một yêu cầu bức thiết, bởi vì kinh nghiệm của các nước cho thấy: nếu thị trường sản phẩm CNHT nội địa tăng trưởng đến một ngưỡng nào đó, thì các công ty lắp ráp sẽ tự động lựa chọn các nhà cung cấp trong nước để giảm chi phí, đồng thời, một khi CNHT phát triển sẽ thu hút các doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư.

- Nguồn lao động trong VKTTĐMT rất dồi dào, nhưng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp. Đặc biệt, nhân lực phục vụ CNHT hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của các ngành công nghiệp chính cả về số lượng và chất lượng. Vùng còn thiếu đội ngũ kỹ sư và lao động có trình độ tay nghề cao.

3. Cơ hội

- Ngành cơ khí được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong các chiến lược phát triển kinh tế quốc gia và được ưu tiên phát triển ở VKTTĐMT (mà đặc biệt là 3 tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng và Quảng Ngãi). Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của KKT mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam cũng lấy ngành cơ khí chế tạo làm trọng tâm phát triển đến năm 2020. Đồng thời, CNHT đang được Chính phủ dành nhiều sự quan tâm với việc hình thành đầy đủ hệ thống chính sách phát triển CNHT bao quát trên nhiều phương diện.

- Khuyến khích phát triển CNHT, hình thành các “cụm liên kết sản xuất - cluster” đang là vấn đề cần ưu tiên trong việc hoàn thiện mô hình phát triển và hoàn thành mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm 2020.

- KKT mở Chu Lai là một trong 05 nhóm KKT ven biển được Chính phủ ưu tiên tập trung nguồn NSNN để đầu tư phát triển trong giai đoạn 2013 - 2015.

4. Thách thức

- Hội nhập kinh tế quốc tế mang đến sự cạnh tranh rất lớn trong việc thu hút đầu tư từ các quốc gia khác trong khu vực, cũng như các địa phương khác trong cả nước, kể cả các địa phương trong VKTTĐMT.

- Những bất ổn gần đây tại Việt Nam liên quan đến việc tranh chấp về chủ quyền biển Đông với Trung Quốc đã ít nhiều ảnh hưởng đến môi trường đầu tư trong nước và có thể tác động không tích cực đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào việc xây dựng Khu CNHT ngành cơ khí tại KKT mở Chu Lai.

- Mặc dù hệ thống chính sách phát triển CNHT ở Việt Nam đã hình thành khá đầy đủ nhưng chưa đủ mạnh và thật sự phù hợp để tạo được sự phát triển đột phá cho việc phát triển CNHT đặc biệt là CNHT ngành cơ khí trong thời gian tới.

Đánh giá chung:

Qua phân tích và đánh giá các điều kiện trên cho thấy, mặc dù việc xây dựng Khu CNHT ngành cơ khí tại KKT mở Chu Lai, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam gặp phải số thách thức và khó khăn nhất định, nhưng những thách thức và khó khăn này đa số chỉ mang tính tạm thời và có thể khắc phục bằng nhiều biện pháp; trong khi đó, các cơ hội và thuận lợi mà dung lượng thị trường, định hướng và chính phát triển CNHT ngành cơ khí của Chính phủ, vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng của KKT mở Chu Lai... mang lại là rất lớn. Do đó, xây dựng Khu CNHT ngành cơ khí tại KKT mở Chu Lai, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam là một sự đầu tư hợp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển của CNHT ngành cơ khí cho tỉnh Quảng Nam riêng và cả VKTTĐMT nói chung.

IV. PHÁT TRIỂN KHU CNHT NGÀNH CƠ KHÍ TẠI KKT MỞ CHU LAI, TỈNH QUẢNG NAM

1. Quan điểm phát triển

Xác định việc hình thành và phát triển Khu CNHT ngành cơ khí tại KKT mở Chu lai là dự án động lực không chỉ cho KKT mở Chu Lai tỉnh Quảng Nam, vùng KTTĐMT mà còn mang tính động lực lan tỏa cho cả nước.

Khu CNHT ngành cơ khí được xem là bước đi mang tính đột phá để phát triển nhóm ngành CNHT về cơ khí, phục vụ cho quá trình tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của nước ta, nên được hưởng chính sách ưu đãi và hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước.

Phát triển Khu CNHT cơ khí cần xác định rõ ưu tiên lựa chọn sản phẩm CNHT ngành cơ khí trong từng giai đoạn, có phân kỳ và có trọng tâm, trọng điểm gắn với nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp đặt hàng, trước mắt doanh nghiệp trong KKT mở Chu Lai. Khuyến khích thu hút đầu tư sản xuất các sản phẩm trong nước đang cần, lựa chọn công nghệ cao, thân thiện với môi trường.

Phát triển Khu CNHT ngành cơ khí góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Nam, các địa phương VKTTĐMT nói riêng và cả nước nói chung. Đảm bảo tính liên kết trên cơ sở phân bố hợp lý về không gian lãnh thổ, về cơ cấu ngành công nghiệp.

2. Mục tiêu phát triển

Phát triển Khu CNHT ngành cơ khí tại KKT mở Chu Lai tỉnh Quảng Nam phù hợp với chiến lược phát triển ngành CNHT Việt Nam, đồng thời gắn liền với quy hoạch phát triển công nghiệp và CNHT của tỉnh Quảng Nam.

Phát triển có tập trung, chọn lọc một số phân ngành, một số chủng loại sản phẩm trọng điểm nhằm đáp ứng nhu cầu về sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí của VKTTĐMT và cả nước, hướng đến xuất khẩu.

Xây dựng Khu CNHT ngành cơ khí có đủ điều kiện để xúc tiến, thu hút được các dự án của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, phục vụ trực tiếp các doanh nghiệp công nghiệp cơ khí, công nghiệp lắp ráp ô tô và công nghiệp đóng tàu trong VKTTĐMT; tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài về công nghệ và vốn.

Tạo việc làm cho một lực lượng lớn lao động của tỉnh Quảng Nam và trong VKTTĐMT; xây dựng đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật và kỷ luật cao cho ngành công nghiệp.

Tạo liên kết giữa các doanh nghiệp và các khu công nghiệp trong VKTTĐMT, góp phần chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thí điểm chính sách ưu đãi và hỗ trợ của Nhà nước đối với CNHT, trên cơ sở đó luật hóa thành chính sách chung cho tương lai phát triển ngành CNHT Việt Nam.

3. Lựa chọn các nhóm sản phẩm CNHT ngành cơ khí ưu tiên phát triển

Thu hút đầu tư, khai thác tối đa mọi nguồn lực, đặc biệt là từ các doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp dân doanh, đưa các sản phẩm CNHT ngành cơ khí tại KKT mở Chu Lai tỉnh Quảng Nam trở thành mắt xích trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tập trung khuyến khích đầu tư sản xuất sản phẩm CNHT ngành cơ khí phục vụ các ngành công nghiệp ô tô, máy móc và thiết bị phục vụ cơ giới hóa nông, lâm, ngư nghiệp.

a) Giai đoạn đến năm 2020

Các sản phẩm cơ khí cơ bản: que hàn, bu lông, đai ốc, các loại vòng bi, bánh răng, khớp nối, chi tiết máy tiêu chuẩn. Sản xuất khuôn mẫu: khuôn dập, khuôn đúc, khuôn ép nhựa phục vụ sản xuất máy móc thiết bị ngành nông, lâm, ngư nghiệp nói riêng và các ngành công nghiệp cơ khí nói chung.

Linh kiện phục vụ ngành công nghiệp ô tô: Tập trung vào các linh kiện có kích thước/trọng lượng lớn, các linh kiện có thị trường trong nước nhằm đạt quy mô sản xuất lớn (các linh kiện có thể sử dụng chung hoặc có quy trình sản xuất phù hợp với các nhà sản xuất, lắp ráp ôtô khác nhau, các linh kiện phải thay thế thường xuyên).

Hỗ trợ hình thành năng lực cung ứng từ doanh nghiệp nội địa cho các doanh nghiệp lắp ráp trong nội địa. Xây dựng hệ thống doanh nghiệp nội địa cung ứng linh phụ kiện kim loại cho các tập đoàn đa quốc gia theo các lớp cung ứng.

b) Giai đoạn sau năm 2020

Mở rộng, nâng cao năng lực các dự án đã thu hút đầu tư ở giai đoạn trước, tiếp tục kêu gọi đầu tư vào các lĩnh vực:

Linh kiện ô tô và thiết bị phục vụ ngành nông, lâm, ngư nghiệp: các lĩnh vực yêu cầu độ chính xác và công nghệ cao, mở rộng khả năng xuất khẩu linh kiện.

Linh kiện động cơ và máy động lực các loại: Tập trung vào các chi tiết 5C của động cơ (thân máy, quy lát, trục khuỷu, trục cam, thanh truyền); Ưu tiên các linh kiện công nghệ cao hơn, như vòi phun cao áp, động cơ đa hệ nhiên liệu.

Tập trung thu hút các dự án phù hợp với thị trường, công nghệ trong giai đoạn mới. Mở rộng lĩnh vực sản xuất, nâng cao khả năng thiết kế, chế tạo linh kiện, cụm linh kiện phức tạp đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp cơ khí và hướng đến xuất khẩu.

4. Định hướng phát triển các phân khu chức năng của Khu CNHT ngành cơ khí tại KKT mở Chu Lai tỉnh Quảng Nam

Khu CNHT ngành cơ khí sẽ có hầu hết tất các chức năng nhằm đáp ứng được tối đa mọi nhu cầu phát triển của CNHT ngành cơ khí trong tương lai, đưa Khu CNHT ngành cơ khí tại KKT mở Chu Lai tỉnh Quảng Nam thành trung tâm CNHT ngành cơ khí của VKTTĐMT và cả nước. Với tổng diện tích đất là 1.715 ha và có thể mở rộng thêm 700 ha. Khu CNHT ngành cơ khí tại KKT mở Chu Lai tỉnh Quảng Nam dự kiến sẽ gồm các phân khu chính sau:

 Khu sản xuất sản phẩm CNHT ngành cơ khí: Đây là nơi tập trung các nhà máy, xí nghiệp CNHT ngành cơ khí như sản xuất các sản phẩm CNHT ngành cơ khí chế tạo, ngành sản xuất lắp ráp ô tô và một số ngành CNC.

 Khu nghiên cứu và chuyển giao công nghệ: gồm các cơ sở nghiên cứu và phát triển các sản phẩm CNHT ngành cơ khí được trang bị hiện đại với cơ chế khuyến khích nghiên cứu, sáng tạo, thiên về ứng dụng và chuyển giao công nghệ.

 Khu quản lý và trưng bày sản phẩm: Đây là văn phòng của Ban quản lý Khu CNHT ngành cơ khí (dự kiến trực thuộc Ban quản lý KKT mở Chu Lai) và là nơi để trưng bày giới thiệu các sản phẩm CNHT ngành cơ khí được sản xuất tại đây.

 Khu dịch vụ hỗ trợ: bao gồm các khu nhà ở, khu thương mại dịch vụ... đáp ứng đầy đủ các nhu cầu trong cuộc sống cho các chuyên gia, nhà đầu tư và người lao động làm việc trong Khu CNHT ngành cơ khí.

5. Đề xuất một số chính sách ưu đãi và hỗ trợ của Nhà nước cho các dự án, doanh nghiệp hoạt động trong CNHT ngành cơ khí tại KKT mở Chu Lai.

- Về thuế:

Áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất cao nhất là 10% trong thời hạn 20 năm, kể từ khi phát sinh thu nhập chịu thuế. Riêng các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh ngành công nghiệp ô tô; máy móc phục vụ nông, lâm, ngư nghiệp, có quy mô vốn đầu tư trên hai ngàn tỷ đồng (tương đương 100 triệu USD) hoặc thu hút trên 4.000 lao động, có khả năng thu hút doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hỗ trợ thì thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp10% kéo dài thêm 10 năm.

Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định và phục vụ sản xuất công nghiệp hỗ trợ bao gồm: Thiết bị, máy móc chuyên dùng, nguyên liệu, vật tư, linh kiện, chi tiết, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện trong nước chưa sản xuất được.

Giảm 70% trong thời hạn 5 năm đầu và giảm 50% các năm tiếp theo đối với thuế thu nhập cá nhân cho tất cả đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân làm việc tại Khu CNHT ngành cơ khí, tại Khu kinh tế mở Chu Lai.

Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm ô tô; sản phẩm phục vụ nông, lâm, ngư nghiệp hoàn chỉnh khi mua các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cơ khí (kể cả mua từ các doanh nghiệp hoạt động trong các Khu chế xuất) phục vụ cho sản xuất không phải nộp thuế giá trị gia tăng. 

- Về tín dụng:

 Được xem xét vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước và Ngân hàng Phát triển Việt Nam tối đa 85% tổng mức vốn đầu tư của dự án (không bao gồm vốn lưu động) với lãi suất cho vay, thời hạn vay và thời hạn ân hạn với mức ưu đãi hiện hành cao nhất.

Đối với các dự án thực hiện đầu tư hiện đại hóa máy móc, thiết bị hay sản xuất các sản phẩm thay thế nhập khẩu, UBND tỉnh Quảng Nam được phép xem xét bảo lãnh vốn vay hoặc sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ một phần lãi suất vay tại các tổ chức tín dụng với hạn mức và lãi suất phù hợp với nhu cầu vay và tính cần thiết của dự án.

- Về tiền thuê đất và sử dụng kết cấu hạ tầng:

Các dự án đầu tư được miễn 15 năm tiền thuê đất hoặc giảm 50% tiền sử dụng đất trong suốt thời gian dự án hoạt động trong trường hợp được giao đất (kể từ ngày xây dựng hoàn thành, đưa dự án vào hoạt động).

Đối với các dự án xây dựng cơ sở nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghiệp hỗ trợ trong Khu Nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và diện tích đất để xây dựng hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội không kinh doanh được giao đất không thu tiền thuê đất.

Miễn 50% phí sử dụng cơ sở hạ tầng tại các khu trưng bày của Khu công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí.

Được hỗ trợ 50% phí sử dụng hạ tầng cho diện tích đất của dự án; Riêng các dự án nghiên cứu, chuyển giao công nghệ nhập khẩu sẽ được hỗ trợ 70% tiền phí sử dụng hạ tầng.

Được hỗ trợ một phần chi phí (không quá 50% tổng số vốn đầu tư) đối với các hạng mục về xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường.

- Về phát triền và ứng dụng khoa học và công nghệ:

Được xem xét hỗ trợ 30% giá trị mua hợp đồng chuyển giao công nghệ, mua bản quyền sáng chế, quyền sở hữu công nghiệp,  thiết kế, mua phần mềm, thiết bị thử nghiệm, sản xuất thử … (Không áp dụng đối với các dự án công nghệ cao).

Hỗ trợ 50% kinh phí xây dựng và đầu tư trang thiết bị nghiên cứu cho Trung tâm Nghiên cứu - Phát triển về công nghiệp hỗ trợ. 

- Về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực:

Hỗ trợ tối đa không quá 50% kinh phí đào tạo nâng trình độ kỹ thuật của đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên ở trong và ngoài nước. Mỗi lao động chỉ được đào tạo một lần và không quá 6 tháng.

Hỗ trợ 100% chi phí đào tạo nâng cao đội ngũ công nhân kỹ thuật chất lượng cao cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ hoạt động trong Khu công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí tại các trường cao đẳng, dạy nghề đạt tiêu chuẩn khu vực Asean.

Trường hợp chủ đầu tư thu hút các chuyên gia trong và ngoài nước vào làm việc nhưng không có chỗ ở được Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai đề xuất với UBND tỉnh Quảng Nam xem xét hỗ trợ tiền thuê nhà trong vòng 12 tháng làm việc đầu tiên. Mức hỗ trợ tối đa không quá 2.000.000 đồng/người/tháng.

- Về phát triển thị trường

Các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được tham gia vào chương trình xúc tiến thương mại quốc gia.

Hỗ trợ một phần chi phí quảng cáo doanh nghiệp và sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng, đăng ký thương hiệu; kinh phí tham gia triển lãm hội chợ trong nước và ngoài nước và kinh phí tiếp cận thôn tin thị trường.

Doanh nghiệp và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được quảng cáo, giới thiệu miễn phí sản phẩm trên Trang thông tin điện tử của UBND tỉnh Quảng Nam, Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai và vùng duyên hải miền Trung.

6. Một số giải pháp phát triển

Thứ nhất, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào Khu CNHT ngành cơ khí theo hướng đồng bộ, hiện đại: hệ thống cung cấp điện, nước, thông tin, dịch vụ hải quan, giao thông; xử lý chất thải, nước thải; nhà ở và các công trình dịch vụ, văn hóa, xã hội; giao thông, đặc biệt là hệ thống đường liên vùng, liên tỉnh (Nâng cấp sân bay Chu Lai, đẩy nhanh tiến độ xây dựng đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, mở rộng và nâng cấp tuyến Quốc lộ 1A; các tuyến giao thông 14B, 14D, 14E...).

Thứ hai, có kế hoạch phân kỳ để đầu tư cho phù hợp và mang lại hiệu quả cao trong từng giai đoạn phát triển. Xem nguồn vốn ngân sách Nhà nước như là “vốn mồi” để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Chú trọng việc lựa chọn và triển khai mô hình đối tác công - tư (PPP) nhằm huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng hạ tầng trong và ngoài KCN. Bên cạnh đó tranh thủ và sử dụng hiệu quả nguồn vốn (ODA) để phục vụ cho đào tạo nguồn nhân lực, chương trình xúc tiến đầu tư, tìm kiếm đối tác đầu tư...

Thứ ba, chủ động tham gia vào các hoạt động liên kết Vùng, liên kết giữa các KKT, KCN trong Vùng, trước mắt ưu tiên đẩy mạnh liên kết trong đầu tư xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng; xúc tiến, thu hút đầu tư; xúc tiến thương mại; đào tạo nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho các KCN trong Vùng; cung cấp nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; trao đổi thông tin…

Thứ tư, lựa chọn các doanh nghiệp chủ lực trong vùng qua đó hình thành các chuỗi cung ứng các sản phẩm CNHT ngành cơ khí như:

Công nghiệp lắp ráp ôtô: Công ty Cổ phần Ôtô Trường Hải (Quảng Nam), Công ty TNHH NISSAN Việt Nam - Đại lý tại Đà Nẵng;

Công nghiệp cơ khí chế tạo: Tổng công ty Sông Thu (Đà Nẵng); Công ty DOSSAN VINA (Quảng Ngãi); Công ty Công nghiệp Tàu thủy Dung Quất (Quảng Ngãi)...

Thứ năm, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về Khu CNHT ngành cơ khí về danh mục các doanh nghiệp, sản phẩm CNHT, danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển trong từng giai đoạn làm cơ sở cho việc giới thiệu, tìm kiếm các mối liên kết với doanh nghiệp chính, đặc biệt là thu hút được các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài.

Thứ sáu, công khai về quy trình, thành phần hồ sơ, các mẫu biểu và tổ chức giám sát giải quyết các thủ tục hành chính (giấy phép đầu tư, giấy phép xây dựng, thủ tục giao đất, visa xuất nhập cảnh, gia hạn visa...) theo quy trình một cửa liên thông tại Ban Quản lý Khu CNHT ngành cơ khí hoặc Ban Quản lý KKT mở Chu Lai. Phối hợp cùng doanh nghiệp kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình hình thành dự án cũng như trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; Tiếp nhận phản ánh kiến nghị, chỉ đạo giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp.

 


[1] Ngày 31 tháng 7 năm 2007, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ theo công văn số 3174/VPCP-CN, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến 2010, tầm nhìn đến 2020.

[2] Ngày 24 tháng 02 năm 2011 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ.

[3] Báo cáo của Ban Quản lý KKT mở Chu Lai

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
Tin đọc nhiều
46.547 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
22.744 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
21.904 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
20.481 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
17.799 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
15.627 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p