10:17 23/04/2012
Cỡ chữ

GS. Cao Ngọc Thành

Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược Huế

Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược Huế

Đối với các tỉnh Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, điều tra dân số toàn quốc năm 2009 cho thấy dân số các tỉnh, trải dài từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, là trên 18,8 triệu người; chiếm tỷ lệ 21,9% so với toàn quốc. Tuy vậy cán bộ y tế trong Vùng chỉ chiếm 17,93% so với tổng số, một số tỉnh Bắc Trung bộ lại có số bác sỹ / vạn dân thấp hơn trung bình toàn quốc, nhìn chung khu vực này chưa có sự thu hút nhân lực y tế đủ với thực tế phân bố dân cư. Cán bộ y tế làm công tác điều trị ở khu vực này chiếm tỷ lệ 78,26% trong tổng số cán bộ y tế, nhiều hơn gấp 5 lần so với lực lượng làm công tác y tế dự phòng (15,87%). Với khí hậu khắc nghiệt, nóng ẩm, mưa nhiều đã tạo cơ hội cho nhiều bệnh tật phát sinh nên đòi hỏi không những phải có số lượng cán bộ y tế đầy đủ mà còn phải phù hợp cấu trúc nhân lực để bảo đảm thực hiện tốt công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân trong Vùng. 

I. THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ

1. Thực trạng nguồn nhân lực y tế

Nhân lực y tế là nguồn lực thiết yếu để xây dựng, củng cố hệ thống y tế và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Hiện nay, nhân lực y tế các nước trên thế giới phải đối mặt với nhiều thách thức từ gánh nặng bệnh tật đến giá cả dịch vụ, nhu cầu chăm sóc sức khỏe; sự phát triển hệ thống y tế tư nhân và việc lựa chọn cơ sở điều trị. Sự thiếu hụt nhân lực y tế thể hiện ở số lượng cán bộ y tế không đủ so với nhu cầu chăm sóc sức khỏe, sự thiếu cân bằng trong đào tạo các chuyên ngành, phân bố không phù hợp với nhu cầu của từng địa phương và bị hao hụt nhân lực vì chết, về hưu, thay đổi nghề nghiệp hay dịch chuyển nơi làm việc.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO - 2006), một đất nước bị thiếu nhân viên y tế khi cứ trung bình 100.000 dân của nước đó có ít hơn 2,3 bác sỹ, y tá và nữ hộ sinh. Trên thế giới hiện có 57 quốc gia rơi vào tình trạng này và thế giới đang bị thiếu khoảng 4,3 triệu nhân viên y tế, trong đó nặng nề nhất là Châu Phi thiếu khoảng 1 triệu nhân viên y tế. Nhiều yếu tố đã tác động đến cuộc khủng hoảng nhân lực y tế, trong đó bao gồm cả sự chênh lệch trong phát triển kinh tế giữa các quốc gia và sự bùng phát các đại dịch cũ và mới. Việc dịch chuyển vùng sinh sống của các cán bộ y tế đang gia tăng do sự chênh lệch trong điều kiện làm việc, tiền lương và cơ hội nghề nghiệp.

Việt Nam tuy không nằm trong số 57 nước trên thế giới thiếu trầm trọng nhân lực y tế nhưng cũng đang phải đương đầu với những vấn đề về nguồn nhân lực, đặc biệt là sự thiếu hụt nguồn nhân lực y tế cũng như mất cân đối giữa các chuyên ngành và phân bố giữa các vùng miền. Theo số liệu của Bộ Y tế (2012) trong Quy hoạch phát triển nhân lực y tế giai đoạn 2012 - 2020, mặc dù số lượng cán bộ y tế đều tăng qua các năm nhưng số lượng và cơ cấu nhân lực ở mỗi tuyến có khác nhau. Hiện nay, tuyến Trung ương có số bác sỹ nhiều gấp 47,8 lần số y sỹ; tỷ lệ này giảm dần ở tuyến tỉnh, huyện (2,8 lần ) và xã (0,3 lần).  

Hiện nay nước ta có trung bình 6,6 BS / 10.000 dân; 7,8 điều dưỡng / 10.000 dân. Nếu muốn có 10 BS / 10.000 dân như ở các nước trong khu vực thì cần phải bổ sung 34.000 bác sỹ. Hằng năm có trên 10.000 cán bộ y tế nghỉ hưu và dân số tăng thêm gần 1 triệu người nên hằng năm phải đào tạo nhiều cán bộ y tế, đặc biệt là bác sỹ hơn số lượng hiện nay mới hy vọng đạt được mục tiêu đặt ra. Như vậy ít nhất cũng từ 8 - 10 năm, nghĩa là đến năm 2020 mới giải quyết phần cơ bản của nhu cầu về nhân lực y tế.

Riêng đối với các tỉnh Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, điều tra dân số toàn quốc năm 2009 cho thấy dân số các tỉnh, trải dài từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, là trên 18,8 triệu người; chiếm tỷ lệ 21,9% so với toàn quốc. Tuy vậy cán bộ y tế trong Vùng chỉ chiếm 17,93% so với tổng số, một số tỉnh Bắc Trung bộ lại có số bác sỹ / vạn dân thấp hơn trung bình toàn quốc, nhìn chung khu vực này chưa có sự thu hút nhân lực y tế đủ với thực tế phân bố dân cư. Cán bộ y tế làm công tác điều trị ở khu vực này chiếm tỷ lệ 78,26% trong tổng số cán bộ y tế, nhiều hơn gấp 5 lần so với lực lượng làm công tác y tế dự phòng (15,87%). Với khí hậu khắc nghiệt, nóng ẩm, mưa nhiều đã tạo cơ hội cho nhiều bệnh tật phát sinh nên đòi hỏi không những phải có số lượng cán bộ y tế đầy đủ mà còn phải phù hợp cấu trúc nhân lực để bảo đảm thực hiện tốt công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân trong Vùng.

2. Một số bất cập trong phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam

Việc phát triển nguồn nhân lực y tế tại Việt Nam nói chung vẫn còn nhiều bất cập. Về nguồn nhân lực, thời gian qua, công tác đào tạo vẫn còn chưa thực sự gắn bó chặt chẽ với quy hoạch cán bộ và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Tại tuyến tỉnh và tuyến huyện đều thiếu cả về số lượng và chất lượng, rất ít các bác sỹ có trình độ chuyên khoa và sau đại học về công tác tại tuyến huyện. Một số chuyên khoa khó có nguồn nhân lực để tuyển dụng như tâm thần, lao, phong, y học cơ sở. Thêm vào đó, việc thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ đã phần nào khiến các đơn vị hạn chế tuyển dụng do phải tăng chi.

Việc đào tạo nhân lực y tế vẫn còn nhiều khó khăn. Số lượng sinh viên y dược tốt nghiệp hàng năm chưa đáp ứng nhu cầu phát  triển hệ thống y tế. Chất lượng đào tạo tăng chưa tương ứng với phát triển trình độ kỹ thuật và nhu cầu của cộng đồng. Khả năng hội nhập của các cơ sở đào tạo với các nước trong khu vực còn hạn chế và có nguy cơ tụt hậu. Việc đào tạo chuyển giao công nghệ y tế trong nước đang thiếu định hướng, chưa có kế hoạch. Quản lý đào tạo chưa thành nề nếp, nhiều công đoạn bị bỏ trống do không phân định rõ vai trò của Bộ Giáo dục và Đào tạo với Bộ Y tế, UBND các tỉnh, các Bộ, ngành... Đào tạo nghề trong ngành y tế còn hạn chế. Đặc biệt đáng lưu ý là giữa đào tạo và tuyển dụng còn chưa gắn liền nhau. Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các cơ sở đào tạo hiện rất hạn chế.

Chính sách tuyển dụng và đãi ngộ vẫn còn nhiều quy định bất cập như việc địa phương không được chủ động trong việc xác định định mức biên chế. Vấn đề tiền lương và thu nhập còn hạn chế và các chính sách đãi ngộ chưa đủ sức thu hút. Đặc biệt là các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, một số chuyên ngành kém hấp dẫn. Phụ cấp nghề thấp, lạc hậu, chưa thỏa đáng, chưa tương xứng với lao động đặc thù của ngành.

II. ĐỊNH HƯỚNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ CHO VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG

1. Trường Đại học Y Dược Huế

Trường Đại Học Y Dược Huế tiền thân là Khoa Y thuộc Viện Đại học Huế được thành lập năm 1957. Ngày 27.10.1976, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 426-TTg thành lập trường Đại học Y khoa Huế trực thuộc Bộ Y tế. Từ năm 1994, theo Nghị định 30/CP ngày 4.4.1994 của Thủ tướng Chính phủ, trường Đại học Y khoa Huế trở thành một trường thành viên của Đại học Huế. Năm 2007, trường được đổi tên là trường Đại học Y Dược Huế theo Quyết định số 334/QĐ-TTg ngày 26.3.2007 của Thủ tướng Chính phủ với chức năng nhiệm vụ cơ bản là đào tạo đại học và sau đại học, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và phát triển các mối quan hệ hợp tác quốc tế, khám và chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Hiện tại, tổng số cán bộ viên chức và người lao động theo hợp đồng, giảng viên kiêm nhiệm và mời giảng trong và ngoài nước của nhà trường là 1.049 người. Trong đó nhân sự cơ hữu có 767 người trong đó tổng số giảng viên là 647 (giảng viên cơ hữu: 365, giảng viên kiêm nhiệm và mời giảng: 282). Đến nay, nhà trường có một đội ngũ giảng viên có trình độ sau đại học khá hùng hậu gồm: 8 giáo sư - tiến sĩ; 44 phó giáo sư - tiến sĩ; 67 tiến sĩ; 242 thạc sĩ; 65 bác sỹ chuyên khoa (BSCK)II; 47 BSCKI; trong đó có 6 nhà giáo ưu tú, 6 thầy thuốc ưu tú và 133 giảng viên chính. Với các tiêu chí của Bộ GD&ĐT, trường đã đạt tiêu chuẩn của một trường đại học chất lượng (trên 4% giảng viên có trình độ giáo sư, phó giáo sư) và vượt chỉ tiêu 75% giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên. Tổng số giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ trở lên là 79/365 giảng viên cơ hữu, đạt tỷ lệ 21,64%.

Nhà trường có cơ sở vật chất, hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm, tương đối hoàn chỉnh và các cơ sở thực tập đủ để đào tạo trên 7.000 sinh viên mỗi năm. Hệ thống giảng đường, phòng thí nghiệm tiếp tục được mở rộng với trên 50 giảng đường, phòng học trong đó hầu hết các giảng đường đều có trang thiết bị dạy / học hoàn chỉnh, có trên 40 phòng thực tập, phòng thí nghiệm liên hoàn và đồng bộ, tạo điều kiện tốt cho sinh viên, học viên sau đại học học tập và nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, trường đang nâng cấp, xây dựng mở rộng Bệnh viện trường với quy mô khoảng 600 giường bệnh. Nhà trường có dự án Trung tâm Y tế chuyên sâu đã đưa vào sử dụng các mũi nhọn chuyên sâu: Labô Sinh hoá Y học, Labô Kỹ năng tiền lâm sàng, Labô Miễn dịch, Labô Di truyền, Labô Nha khoa phục hồi chất lượng cao, Labô Vi sinh, Trung tâm Carlo Urbani với phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 3…

Hiện nay trường đang đào tạo hệ chính quy 9 ngành và chuyên ngành, hệ liên thông 11 ngành và chuyên ngành. Quy mô đào tạo đại học ngày càng tăng, nhất là trong 5 năm gần đây: năm học 2007 - 2008 là 4.513 sinh viên, năm học 2008 - 2009 là 5.311 sinh viên (tăng 17,6%), năm học 2009 - 2010 là 6.201 sinh viên (tăng 16,7%), năm học 2010 - 2011 là 7.061 sinh viên (tăng 13,8%) và năm học 2011 - 2012 là 7.779 sinh viên (tăng 10,5%). Đào tạo sau đại học có qui mô khoảng 2.000 học viên / năm với 83 chuyên ngành gồm: các ngành bác sĩ định hướng chuyên khoa, CKI, CKII, bác sĩ nội trú bệnh viện, thạc sĩ và tiến sĩ. Địa bàn đào tạo ngoài các tỉnh thuộc khu vực miền Trung - Tây Nguyên, còn đào tạo cho các tỉnh thành Nam bộ và thành phố Hồ Chí Minh.

Nhà trường còn đào tạo nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, theo địa chỉ sử dụng cho các tỉnh miền núi, các tỉnh, thành phố thuộc khu vực vùng duyên hải miền Trung (từ Thanh Hóa đến Bình Thuận) và các tỉnh Tây Nguyên còn thiếu cán bộ. Ngoài ra, nhà trường đang đào tạo  sinh viên học theo chế độ cử tuyển, đào tạo  sinh viên ngành Bác sỹ đa khoa hệ tập trung 4 năm thuộc Dự án hỗ trợ y tế cho các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, đào tạo nguồn nhân lực y tế cho nước bạn Lào…

2. Định hướng liên kết, phát triển đào tạo nguồn nhân lực y tế

Để giải quyết vấn đề nhân lực y tế đòi hỏi sự điều chỉnh ở cấp vĩ mô cũng như sự tích cực hưởng ứng, tham gia của các cơ sở đào tạo, địa phương, và các cơ sở sử dụng nguồn nhân lực. Bộ Y tế đã đề ra một số các giải pháp bao gồm đổi mới, tăng cường công tác quản lý nhà nước, quản trị nhân lực y tế. Các giải pháp chính bao gồm nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý và phát triển nhân lực y tế các cấp, tăng cường năng lực xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển và dự báo nhu cầu nhân lực y tế các tuyến, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn nhân lực y tế, tăng cường hiệu lực các hoạt động kiểm tra, giám sát đối với việc thực hiện các chính sách về nhân lực y tế, tăng cường sự chỉ đạo của Chính phủ, phối kết hợp của các Bộ / ngành / UBND các tỉnh thành trong công tác xây dựng chính sách liên quan đến nhân lực y tế. Trong đó, cần điều chỉnh, sửa đổi và ban hành bổ sung các chính sách tuyển dụng cán bộ, chế độ phụ cấp ưu đãi sao cho đảm bảo đủ sức hấp dẫn để thu hút và giữ chân cán bộ yên tâm công tác trong ngành y tế nói chung và những lĩnh vực ít lợi thế như: y tế dự phòng, một số chuyên khoa đặc thù, y tế tuyến cơ sở, vùng khó khăn…

Về phía đào tạo, để giải quyết vấn đề nhân lực y tế, Bộ Y tế đã và đang triển khai các nhóm giải pháp như: tăng chỉ tiêu đào tạo cho các trường y dược, mở thêm các mã ngành, mở rộng các hình thức liên kết giữa các cơ sở đào tạo y tế với địa phương. Tuy nhiên với việc tăng chỉ tiêu đào tạo thì vấn đề được đặt ra là liệu chất lượng đào tạo có được bảo đảm vì đào tạo y bác sĩ là gắn liền trực tiếp với tính mạng và sức khỏe của con người. Hơn nữa, hiện nay về cơ sở vật chất của các trường và đội ngũ giảng viên cũng vẫn ở mức rất hạn chế. Cũng cần nhấn mạnh rằng đào tạo y dược là một ngành đặc thù, đào tạo lý thuyết gắn liền với thực hành, mà đặc biệt quan trọng hơn là thực hành trên con người, do đó không thể rút ngắn thời gian thực hành được, mà ít nhất là phải mất 6 năm. Bên cạnh đó việc đào tạo chuyên môn phải song hành với việc giáo dục y đức nhân cách cho sinh viên - những nhà giáo, cán bộ y tế, người thầy thuốc tương lai của xã hội, đất nước. Chính vì vậy, việc tăng số lượng đào tạo đồng thời vẫn đảm bảo được chất lượng đào tạo là rất khó khăn.

Trong bối cảnh đó, trường Đại học Y Dược Huế xác định rằng việc định hướng gắn kết đào tạo với nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế là vấn đề tất yếu bởi nó tạo ra lợi ích kép đó là nghiên cứu khoa học sẽ góp phần đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao và hoàn thiện chương trình đào tạo cũng như nâng cao vị thế của nhà trường trong hợp tác quốc tế và ngược lại.

Một số định hướng và giải pháp chính của nhà trường trong giai đoạn sắp tới là:

- Hoàn thiện hệ thống mục tiêu đào tạo của từng chuyên ngành đào tạo của trường, làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống chương trình nghiên cứu khoa học theo các chuyên ngành. Mục tiêu đào tạo cần được hoàn thiện trên cơ sở khảo sát về nhu cầu của thực tiễn và thông qua việc đánh giá chất lượng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội trong tình hình hiện nay. Đồng thời nâng cao chất lượng giảng dạy vừa góp phần phát triển những ngành khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau.

- Tìm hiểu những yêu cầu mới phù hợp tình hình mới của đất nước để từ đó làm cơ sở cho việc điều chỉnh, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.

- Tìm hiểu nhu cầu đào tạo và sử dụng nhân lực y tế tại các vùng miền khác nhau, đặc biệt tập trung ưu tiên cho khu vực duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Định kỳ tổ chức Hội nghị nguồn nhân lực tại trường để nắm bắt nhu cầu và cập nhật về số lượng, chỉ tiêu đào tạo cho từng chuyên ngành và cho từng khu vực, tỉnh, thành phố. Nhà trường cũng đã thành lập Trung tâm nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực y tế miền Trung - Tây Nguyên nhằm tư vấn cho các tỉnh thuộc khu vực về nguồn nhân lực y tế.

- Ðổi mới nội dung chương trình và phương pháp đào tạo theo xu hướng học đi đôi với hành, tăng cường số giờ thực hành để có điều kiện áp dụng lý thuyết được học ứng dụng thực tế. Tăng cường trao đổi thảo luận và tự nghiên cứu của sinh viên mà hầu hết các trường đại học đều đang vận dụng, cần tăng cường đào tạo khả năng phân tích dự báo, khả năng làm việc độc lập và lao động sáng tạo của sinh viên. Khuyến khích sinh viên tích cực tham gia nghiên cứu khoa học và trình bày tại các hội nghị, hội thảo như “Hội nghị khoa học tuổi trẻ Y Dược toàn quốc” được tổ chức 2 năm một lần. Thường xuyên lấy ý kiến góp ý về nội dung, chương trình đào tạo từ các đơn vị sử dụng nhân lực y tế để làm cơ sở cho việc hoàn thiện đổi mới nội dung chương trình và phương pháp đào tạo.

- Nâng cao hiệu quả thiết thực của việc thực tập cho sinh viên tại thực địa. Vấn đề này cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường và cơ sở thực tập để bố trí cho sinh viên được làm quen và tiếp cận với thực tế công việc sẽ làm sau khi được đào tạo tại trường.

- Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học. Xây dựng các chương trình khảo sát kinh nghiệm quốc tế về nội dung, chương trình đào tạo sinh viên của các trường đại học Y Dược danh tiếng trong khu vực và quốc tế. Hợp tác với các trường đại học nước ngoài trong việc đào tạo giảng viên, tạo điều kiện cho giảng viên được tham quan, khảo sát để học tập kinh nghiệm về phương pháp đào tạo và tổ chức khoa học từ các trường đại học nước ngoài.

- Hiện đại hóa cơ sở vật chất tạo điều kiện tối đa cho giảng viên, học viên cập nhật kiến thức, nâng cao hiệu quả việc tìm kiếm tham khảo tài liệu, thử nghiệm, ứng dụng kiến thức được đào tạo.

- Ðầu tư kinh phí thích đáng cho hoạt động nghiên cứu khoa học để khuyến khích động viên tính tích cực của cán bộ nghiên cứu, giảng viên, học viên tích cực tham gia hoạt động này.         

Có thể nói, hiệu quả của công tác đào tạo nguồn nhân lực và công tác nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế gắn kết với nhau một cách biện chứng. Nhận thức rõ vấn đề này sẽ là điều kiện hình thành cơ chế chính sách quản lý thích hợp đối với  các trường đại học và các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực y tế, tạo tiền đề để các trường phát huy hơn nữa tính sáng tạo trong việc tham gia một cách tích cực vào việc gắn kết chương trình giảng dạy với nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế. Hơn thế nữa, việc thực hiện tốt công tác này sẽ giúp đào tạo đội ngũ cán bộ, nhà khoa học trẻ trong lĩnh vực y tế có kiến thức vững vàng, phát huy hiệu quả ngay sau khi về công tác ở cơ sở. Quan trọng nhất chính là cần có cơ chế sử dụng hiệu quả kinh phí nghiên cứu khoa học gắn với chức năng đào tạo, đặc biệt là đào tạo sau đại học, đồng thời tận dụng tối đa các mối quan hệ hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển nghiên cứu khoa học.

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
2.852 lượt xem - 23.10.2013 : 9:21p
3.790 lượt xem - 04.07.2012 : 16:36p
2.505 lượt xem - 03.07.2012 : 16:03p
3.026 lượt xem - 16.05.2012 : 10:35p
Tin đọc nhiều
43.472 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
21.553 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
20.794 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
19.318 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
16.822 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
15.039 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p