0:37 14/12/2011
Cỡ chữ

Vùng duyên hải miền Trung bao gồm 9 tỉnh/thành phố (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) nằm ở vị trí trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. 

1. Tổng quan kinh tế Vùng duyên hải miền Trung

Vùng duyên hải miền Trung bao gồm 9 tỉnh/thành phố (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) nằm ở vị trí trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Các quốc lộ 14B, 24 và 19 nối các cảng biển đến vùng Tây Nguyên và trong tương lai gần sẽ nối với hệ thống đường xuyên Á qua Lào, đông bắc Campuchia, Thái Lan, Myanmar theo hành lang Đông Tây là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên và các nước trên đến các nước vùng Bắc Á. Vị trí địa lý là một lợi thế quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho Vùng mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên, cả nước và quốc tế.

a. Quy mô và tốc độ tăng GDP

Vị thế kinh tế của Vùng duyên hải miền Trung ngày càng được cải thiện; đến năm 2010 GDP của toàn vùng đạt 60.604 tỷ đồng.Trong thời kỳ 2007 - 2010, tỷ trọng GDP toàn Vùng so với cả nước tăng từ 9,2% lên 11%, với tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vùng đạt được mức khá cao và ổn định (bình quân khoảng 12,4%/năm, cao hơn gần gấp 2 lần so với tỷ lệ tăng trưởng của cả nước) (Xem thêm Bảng 1.1 và Hình 1.1).

Bảng 1.1: GDP của Vùng duyên hải miền Trung giai đoạn 2007- 2010

 

2007

2008

2009

2010

Giai đoạn 2007 - 2010

GDP toàn Vùng (tỷ đồng)

42.656

47.398

52.889

60.604

 

GDP toàn Vùng/GDP cả nước (%)

9,2

9,7

10,2

11,0

 

Tăng trưởng GDP của Vùng (%)

 

11,1

11,6

14,6

12,4

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh, thành phố

Hình 1.1: GDP và tăng trưởng kinh tế của các tỉnh Vùng duyên hải miền Trung năm 2010

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh, thành phố

Cùng với tăng trưởng kinh tế, GDP bình quân đầu người của Vùng cũng có sự cải thiện đáng kể (năm 2007 đạt 11, triệu đồng/người theo giá hiện hành (tương ứng 5,4 triệu đồng/người theo giá cố định năm 1994) - thấp hơn mức trung bình của cả nước nhưng đến năm 2010 đã đạt 21,9 triệu đồng/người (tương ứng 7,5 triệu đồng/người theo giá cố định năm 1994) – gấp 1,2 lần so với bình quân cả nước), song chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người giữa các tỉnh trong Vùng còn khá lớn và có xu hướng gia tăng (xem Hình 1.2).

Hình 1.2: GDP bình quân đầu người của các tỉnh/thành phố Vùng duyên hải miền Trung

 (theo giá so sánh năm 1994) 

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh, thành phố

b. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Ảnh 1. Các cảng cá miền Trung luôn tấp nập thuyền bè

Cơ cấu kinh tế của Vùng chuyển dịch khá nhanh, tỷ trọng đóng góp của nông - lâm - thủy sản vào GDP có xu hướng giảm (từ 22,1% năm 2007 xuống 18,5% năm 2010); trong khi đó với sự tăng trưởng cao, tỷ trọng đóng góp của công nghiệp - xây dựng vào GDP tăng nhanh (từ 37,8% năm 2007 lên 41,7% năm 2010); đồng thời có sự hội tụ dần trong xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành giữa các tỉnh/thành phố theo hướng công nghiệp hóa. Ngoại trừ Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế và Khánh Hòa có xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế rõ ràng theo hướng dịch vụ - công nghiệp, xây dựng - nông, lâm, thủy sản, các địa phương còn lại đều có một cơ cấu kinh tế khá gần nhau (xem thêm Bảng 1.2).

Bảng 1.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng duyên hải miền Trung 2007 - 2010

Đơn vị tính: (%)

 

 

2007

2010

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Công nghiệp và xây dựng

Dịch vụ

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Công nghiệp và xây dựng

Dịch vụ

Thừa Thiên Huế

18,8

38,0

43,2

15,1

39,7

45,2

Đà Nẵng

4,3

45,5

50,2

3,8

42,0

54,2

Quảng Nam

26,1

37,9

36,0

21,4

40,1

38,5

Quảng Ngãi

29,9

36,0

34,1

18,6

59,3

22,1

Bình Định

34,9

28,9

36,2

35,1

28,9

36,0

Phú Yên

32,2

31,9

35,9

29,2

34,4

36,4

Khánh Hòa

17,5

41,6

40,9

13,5

41,8

44,6

Toàn vùng

22,1

37,8

40,1

18,5

41,7

39,8

Cả nước

20,3

41,5

38,2

20,6

41,1

38,3

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh, thành phố

2. Tình hình sản xuất theo từng nhóm ngành của Vùng duyên hải miền Trung

a. Nông - lâm và thủy sản:

Giá trị sản xuất nông, lâm và thủy sản của toàn Vùng trong giai đoạn 2007 - 2010 có xu hướng tăng nhanh với tốc độ tăng 3,89% năm 2007 tăng lên 5,3% năm 2010, trong đó Bình Định và Phú Yên là hai tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao nhất tương ứng lần lượt là 8,27%/năm và 5,3%/năm. Nông nghiệp và thủy sản là hai phân ngành tạo ra giá trị sản xuất lớn cho khu vực nông-lâm, thủy sản; tuy nhiên, tăng trưởng của ngành nông nghiệp trong thời kỳ này đạt ở mức chưa cao (từ 2,96% tăng lên 5,46%) còn ngành thủy sản có tốc độ tăng trưởng năm 2010 kém hơn so với những năm trước (từ 5,44% năm 2007 giảm xuống 4,99% năm 2010). Nguyên nhân chính là do hai ngành chăn nuôi diễn biến dịch bệnh phức tạp và ngành nuôi trồng thủy sản cũng không nằm ngoài xu hướng chung của cả nước là đã qua thời kỳ phát triển nhanh.

Ảnh 2. Đưa cá về Cảng

Cùng nằm trong khu vực ven biển miền Trung, nhưng chỉ riêng Đà Nẵng và Khánh Hòa là hai thành phố có giá trị sản xuất của ngành nuôi trồng và khai thác thuỷ sản đạt cao nhất với tỷ trọng đóng góp của ngành thủy sản vào cơ cấu GDP của ngành nông - lâm, thủy sản từ 55% -65%; trong khi đó con số này ở những địa phương còn lại chỉ ở mức 22% - 33%.

Bảng 2.1: Giá trị sản xuất nông, lâm và thủy sản của toàn Vùng            

 Đơn vị tính: triệu đồng

Tổng số

2007

2008

2009

2010

15.774.407

16.387.278

17.109.986

18.016.356

Nông nghiệp

9.753.468

10.041.714

10.403.298

10.971.146

Trồng trọt

6.850.232

7.016.736

7.042.358

7.368.231

Chăn nuôi

2.464.078

2.560.913

2.864.914

3.090.334

Dịch vụ, khác

439.158

464.065

496.026

512.581

Lâm nghiệp

742.900

780.632

791.031

834.304

Trồng và nuôi rừng

164.674

174.130

174.098

180.705

Khai thác lâm sản

478.834

504.425

505.495

539.875

Dịch vụ và hoạt động lâm nghiệp khác

99.392

101.077

111.438

113.724

Thủy sản

5.278.039

5.564.932

5.915.657

6.210.906

Nuôi trồng thủy sản

1.697.501

1.900.212

2.133.986

2.180.603

Khai thác thủy sản

3.420.756

3.501.615

3.666.340

3.914.665

Dịch vụ thủy sản

136.172

144.753

100.113

99.512

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2010) 

Bảng 2.2: Tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm và thủy sản toàn Vùng 2007 - 2010

Tổng số

2008

2009

2010

3,89%

4,41%

5,30%

Nông nghiệp

2,96%

3,60%

5,46%

Trồng trọt

2,43%

0,37%

4,63%

Chăn nuôi

3,93%

11,87%

7,87%

Dịch vụ, khác

5,67%

6,89%

3,34%

Lâm nghiệp

5,08%

1,33%

5,47%

Trồng và nuôi rừng

5,74%

-0,02%

3,79%

Khai thác lâm sản

5,34%

0,21%

6,80%

Dịch vụ và hoạt động lâm nghiệp khác

1,70%

10,25%

2,05%

Thủy sản

5,44%

6,30%

4,99%

Nuôi trồng thủy sản

11,94%

12,30%

2,18%

Khai thác thủy sản

2,36%

4,70%

6,77%

Dịch vụ thủy sản

6,30%

-30,84%

-0,60%

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2010)  

Bảng 2.3: Tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất nông, lâm và thủy sản của các địa phương trong Vùng giai đoạn 2007 - 2010

Đơn vị tính: %/năm

Chỉ tiêu

Thừa Thiên

Huế

Đà Nẵng

Quảng Nam

Quảng Ngãi

Bình Định

Phú Yên

Khánh Hòa

Toàn Vùng

Cả nước

Tổng số

2,91

-4,19

2,80

3,09

8,27

5,30

4,11

4,53

5,11

Nông nghiệp

2,68

1,44

1,34

2,22

6,86

2,17

7,52

4,00

4,68

Trồng trọt

3,36

-2,95

1,56

-0,19

3,07

1,15

7,51

2,46

3,89

Chăn nuôi

1,10

10,14

0,42

7,36

13,76

4,99

10,35

7,84

7,84

Dịch vụ, khác

1,96

-0,56

3,92

5,11

11,69

8,02

-0,60

5,29

3,31

Lâm nghiệp

5,74

-1,94

2,72

3,05

6,59

13,07

-7,19

3,94

3,71

Trồng và nuôi rừng

-0,33

-12,09

3,96

17,07

3,52

7,71

-13,87

3,15

4,03

Khai thác lâm sản

8,69

0,16

2,23

0,86

8,32

14,26

-5,41

4,08

3,55

Dịch vụ và hoạt động lâm nghiệp khác

1,72

1,27

2,61

12,06

5,13

33,52

-1,40

4,59

4,18

Thủy sản

2,64

-6,88

7,59

4,95

12,02

10,85

1,57

5,57

6,61

Nuôi trồng thủy sản

1,35

-8,78

18,02

4,49

25,72

23,73

-1,97

8,71

7,05

Khai thác thủy sản

7,78

-6,06

6,27

5,00

7,58

3,84

4,75

4,60

5,78

Dịch vụ thủy sản

-22,61

-41,71

 

10,09

54,88

 

2,88

-9,93

 

Nguồn: Tính toán từ các số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh, thành phố

b. Công nghiệp:

Ngành công nghiệp của Vùng đạt tăng trưởng cao và liên tục trong giai đoạn 2007 - 2010 với tốc độ tăng bình quân 23,5%/năm. Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2010 đạt 84,5 tỷ đồng tăng 30,9% so với năm 2009; cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng 18% trong hai năm đầu của giai đoạn này. Trong đó, tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế nhà nước cao nhất trong cả ba khu vực với mức tăng trưởng năm 2010 ở mức 64%. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước lại có xu hướng giảm (từ 20,9% năm 2009 giảm xuống còn 15,9% năm 2010). Điều đặc biệt là khu vực đầu tư nước ngoài đã có sự cải thiện đáng kể với tốc độ tăng trưởng công nghiệp trong năm 2010 đạt 26,5% cao hơn rất nhiều so với mức 8,5% của năm 2009.

Bảng 2.4: Tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần kinh tế

 

2008

2009

2010

2007 - 2010

Toàn ngành

18,0%

21,9%

30,9%

23,5%

Kinh tế nhà nước

-4,7%

34,9%

64,0%

28,2%

Kinh tế ngoài nhà nước

27,4%

20,9%

15,9%

21,3%

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

29,5%

8,5%

26,5%

21,1%

Nguồn: Tính toán từ các số liệu của Cục Thống kê các tỉnh, thành phố

Xét về cơ cấu ngành, ngành công nghiệp chế biến là phân ngành tạo ra giá trị sản xuất lớn nhất cho toàn ngành công nghiệp của Vùng (chiếm khoảng 92% giá trị sản xuất toàn ngành) với tốc độ tăng liên tục, bình quân 23,5%/năm trong giai đoạn 2007 - 2010; đồng thời đây cũng là phân ngành có giá trị đóng góp lớn nhất vào GDP chung của toàn ngành công nghiệp (trung bình 84,5% trong cơ cấu GDP của giai đoạn này). Trong khi đó, ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp sản xuất phân phối điện, khí đốt và nước có tốc độ tăng trưởng sụt giảm mạnh (tương ứng lần lượt từ 21% và 30,5% năm 2008 giảm xuống còn 5,5% và 8,3% năm 2010).

Ảnh 3. Trong nhà máy sản xuất ô tô tại KKT mở Chu Lai

Bảng 2.5: Tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp theo ngành

 

2008

2009

2010

2007 - 2010

Toàn ngành

18,0%

21,9%

30,9%

23,5%

Công nghiệp khai khoáng

21,0%

34,9%

5,5%

19,9%

Công nghiệp chế biến

17,3%

20,5%

33,2%

23,5%

Công nghiệp SXPP điện, khí đốt, nước

30,5%

39,7%

8,3%

25,4%

Nguồn: Tính toán từ các số liệu của Cục Thống kê các tỉnh, thành phố

Tuy nhiên, các sản phẩm công nghiệp chủ yếu là sản phẩm chế biến thủy sản, nông lâm, và dệt may sử dụng nhiều lao động với giá trị gia tăng rất thấp; các sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng cao như điện tử, hóa chất, cơ khí còn chiếm tỷ trọng nhỏ; mức độ tập trung các doanh nghiệp công nghiệp còn thấp.

3. Đánh giá chung

a. Thành tựu:

- Toàn Vùng có 06 sân bay (trong đó có 04 cảng hàng không quốc tế), 08 cảng biển nước sâu, 06 khu kinh tế ven biển (cả nước có 15 khu kinh tế ven biển), 01 khu công nghệ cao (cả nước có 3 khu công nghệ cao), 09 tuyến đường quốc lộ, đường sắt Bắc - Nam chạy qua, phân bổ đều khắp ở các địa phương, nối liền các đô thị, các khu kinh tế, khu công nghiệp trong Vùng.

- Trên địa bàn tập trung đến 4 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận là Quần thể di tích cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế, Phố cổ Hội An và Khu di tích Mỹ Sơn.

- Một chuỗi đô thị ven biển đang hình thành như: Chân Mây - Lăng Cô, Đà Nẵng, Hội An, Vạn Tường, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang là cơ sở quan trọng để thiết lập và mở rộng các liên kết kinh tế giữa các địa phương trong Vùng.

- Cơ cấu kinh tế của các địa phương trong Vùng chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần các ngành dịch vụ, công nghiệp và xây dựng, giảm dần ngành nông nghiệp.

- Toàn Vùng đã có 06 khu kinh tế, 34 khu công nghiệp, tập trung phát triển các ngành công nghiệp chủ lực có quy mô lớn như lọc hóa dầu, năng lượng, lắp ráp ô tô, sửa chữa và đóng mới tàu biển, chế biến nông - lâm - thủy sản, hóa chất, vật liệu xây dựng, khai khoáng, cơ khí, điện, điện tử, điện lạnh, công nghiệp thông tin, dệt may, da giày... với các sản phẩm chủ lực là hóa dầu, thủy điện, ô tô, hải sản, dệt may, da giày, cao su...

- Phát triển ngành khai thác (nuôi trồng, chế biến) thủy sản và chế biến, xuất khẩu thủy sản; có đội ngũ ngư dân có truyền thống đánh bắt hải sản đông đảo.

b. Hạn chế:

- Chưa có hệ thống giao thông đường bộ hiện đại, nhất là các tuyến đường cao tốc đáp ứng yêu cầu phát triển.

- Xuất phát điểm nền kinh tế của các địa phương thấp, tích lũy đầu tư nhỏ, hiệu quả đầu tư chưa cao.

- Tiềm năng, thế mạnh khá tương đồng (biển, du lịch, cảng biển, sân bay, khu kinh tế, nguồn nhân lực dồi dào...); các ngành kinh tế chủ lực tại các khu kinh tế, khu công nghiệp của các địa phương có sự trùng lắp nên địa phương nào cũng bị phân tán nguồn lực đầu tư (cả nhà nước lẫn tư nhân).

- Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các nhóm ngành dịch vụ, công nghiệp - xây dựng; tuy nhiên, tỷ trọng nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp vẫn còn khá lớn.

- Các địa phương của Vùng có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) còn ở mức thấp hoặc trung bình.

- Phần lớn các địa phương đều có tư duy phát triển dàn trải dựa trên tiềm năng, thế mạnh của mình về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch (thiên nhiên, nhân văn), nguồn nhân lực dồi dào, lao động rẻ...

- Đã xuất hiện những xung đột giữa lợi ích địa phương và lợi ích toàn Vùng do các tỉnh đều ưu tiên tập trung phát triển cảng biển, sân bay, khu kinh tế. Mặt khác, các ngành kinh tế chủ lực của các tỉnh có cơ cấu ngành, sản phẩm khá trùng lắp, thiếu các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ.

- Các tỉnh vẫn còn lúng túng, bị động, chưa biết bắt đầu và triển khai các bước cần thiết như thế nào để liên kết phát triển.

c. Tiềm năng:

- Các địa phương có nguồn tài nguyên khá đa dạng và phong phú với nhiều tiềm năng nổi trội về biển, đảo, vịnh nước sâu, đất, rừng, di sản văn hóa lịch sử… cho phép phát triển kinh tế tổng hợp với các ngành chủ lực như: du lịch, công nghiệp đóng tàu và dịch vụ hàng hải, khai thác và chế biến thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá...

Chế biến cá basa ở Bình Định

- Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, môi trường quốc tế thuận lợi là cơ hội để phát huy vị trí và vai trò của các tỉnh, thành phố duyên hải miền Trung trong quá trình CNH, HĐH đất nước; đặc biệt các quốc gia có tiềm năng kinh tế biển đang là lợi thế trong cạnh tranh toàn cầu.

- Việt Nam nói chung, miền Trung nói riêng đang được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào miền Trung ngày càng lớn.

- Một số công trình đầu tư lớn, công trình trọng điểm được đầu tư vào miền Trung và bắt đầu đi vào khai thác, hoạt động.

- Kinh tế tri thức đang phát triển, Vùng có thể tăng tốc phát triển trên cơ sở đẩy nhanh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển mạnh khoa học công nghệ…

d. Thách thức:

- Lãnh thổ trải rộng và địa hình phức tạp sẽ cản trở tổ chức không gian phát triển kinh tế - xã hội của Vùng; đặc biệt là kết nối giao thông đường bộ.

- Nhu cầu vốn đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông liên tỉnh và quốc tế là rất lớn; đa số các địa phương trong Vùng chưa có khả năng tích lũy để phát triển; thu nhập dân cư thấp.

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đòi hỏi phải có nhân lực chất lượng cao, nhưng để đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao cần có thời gian và nguồn lực không nhỏ.

- Chưa có các sản phẩm chủ lực, thương hiệu sản phẩm đặc trưng của Vùng, ngoại trừ một số điểm du lịch có thương hiệu, nhưng chưa có tác dụng lan tỏa.

- Sự hợp tác và liên kết vùng chưa mang lại hiệu quả từ quy hoạch phát triển, thu hút đầu tư, phân bổ nguồn lực đến cơ chế phối hợp điều hành.

- Thiên tai, dịch bệnh xảy ra thường xuyên; tác động của sự biến đổi khí hậu và vấn đề ô nhiễm môi trường cũng đang là những thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của Vùng.

4. Định hướng phát trển kinh tế Vùng

a. Giai đoạn 2010 - 2015:

(1) Khai thác lợi thế về vị trí địa kinh tế, tập trung phát triển và phối hợp phát triển giữa các địa phương để phát huy lợi thế so sánh của Vùng về hệ thống cảng biển. Tổ chức lại mạng lưới dịch vụ vận tải, phối hợp phát triển chuỗi logistic nhằm gắn kết các khâu sản xuất, lưu thông, giao nhận, xuất nhập khẩu, phân phối hàng hóa giữa các địa phương trong Vùng và với khu vực Tây Nguyên, Nam Lào, đông bắc Campuchia, đông bắc Thái Lan, Myamar gắn với hệ thống cảng biển của Vùng. Tập trung đầu tư phát triển đồng bộ và hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng, tháo gỡ mọi khó khăn, rào cản, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút các doanh nghiệp lớn để tạo đột phá về phát triển cho các khu kinh tế (KKT), khu công nghiệp (KCN), khu du lịch của Vùng.

(2) Chú trọng sự phát triển bền vững, giải quyết tốt các vấn đề về an toàn môi trường ngay trong công tác quy hoạch và điều hành. Trong quá trình CNH, HĐH và đô thị hóa cần chú trọng sự phát triển bền vững, không để xảy ra các sự cố môi trường sinh thái, môi trường đô thị; đồng thời bảo đảm cải thiện điều kiện môi trường ở các khu dân cư hiên tại đang bị ô nhiễm. Có giải pháp phòng chống ô nhiễm các khu vực sản xuất công nghiệp tập trung và các làng nghề. 

(3) Chuyển dịch cơ cấu và nâng cao hiệu quả sản xuất công nghiệp bằng cách phát triển các ngành sản xuất chủ lực dựa trên lợi thế so sánh của từng tỉnh. Ưu tiên phát triển công nghiệp cơ khí (đóng và sửa chữa tàu thuyền, chế tạo và sửa chữa ô tô, máy động lực, máy nông nghiệp...), chế tạo và lắp ráp thiết bị điện - điện tử, công nghiệp công nghệ cao (sản xuất phần mềm, thiết bị tin học, vật liệu mới, vật liệu cao cấp...). Chú trọng phát triển công nghiệp phụ trợ gắn với KCN, KKT để tăng giá trị gia tăng của sản phẩm, tăng sức cạnh tranh và hiệu quả. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế về tài nguyên, có quy mô và đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước như sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, chế biến đồ uống và công nghiệp thực phẩm... Hình thành các khu, cụm công nghiệp nhỏ và vừa gắn với quá trình đô thị hóa, tạo việc làm phi nông nghiệp. Tập trung lấp đầy các khu công nghiệp hiện có; xây dựng và phát triển các cụm công nghiệp nhỏ, vừa, các làng nghề truyền thống ở khu vực nông thôn ở tất cả các xã có làng nghề trên cơ sở bảo vệ môi trường sinh thái. Quan tâm đến phát triển tiểu thủ công nghiệp, nhất là làng nghề truyền thống và làng có nghề phục vụ xuất khẩu. 

(4) Đầu tư phát triển thành phố, thị xã, tỉnh lỵ trở thành hạt nhân tăng trưởng của Vùng, là trung tâm du lịch, dịch vụ - thương mại, trung tâm văn hóa, nghệ thuật, trung tâm đào tạo đại học, trung tâm y tế chuyên sâu và y tế chất lượng cao, trung tâm khoa học, trung tâm giao dịch quốc tế quan trọng của Vùng và cả nước. Tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị hiện đại; phát triển kết cấu hạ tầng du lịch; đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, du lịch.

 (5) Cơ cấu lại kinh tế nông thôn, gắn kinh tế nông thôn như một vành đai, vệ tinh phát triển của khu kinh tế và các đô thị trong Vùng. Trong quá trình CNH, HĐH và đô thị hóa, cần xây dựng kết cấu hạ tầng ở cả đô thị, nông thôn với mục tiêu gắn kết kinh tế đô thị với kinh tế nông thôn trong một mô hình động lực phát triển kinh tế. Quan tâm đào tạo nghề và chuyển đổi nghề phù hợp xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Các trung tâm đô thị Vùng có nhiệm vụ rất lớn trong quá trình phát triển là phải tạo ra việc làm không chỉ thu hút lao động tăng thêm hàng năm, mà còn phải thu hút thêm đáng kể lực lượng lao động ở khu vực nông thôn. Đầu tư cho khu vực nông thôn về xây dựng kết cấu hạ tầng theo hướng CNH, chuyển giao các sản phẩm công nghiệp gia công từ đô thị, phát triển sản xuất thủ công nghiệp, các làng nghề các ngành phục vụ đời sống, nông nghiệp. Khai thác tiềm năng của cảnh quan vùng nông nghiệp ven đô, ven KCN để phát triển du lịch là những hướng cần được khuyến khích và có chính sách ưu đãi để hình thành hệ thống đô thị nông thôn (thị trấn, thành phố vườn) trong quá trình phát triển của Thừa Thiên Huế.

(6) Hoàn thiện quy hoạch không gian lãnh thổ theo hướng tạo các đô thị gắn kết với nhau và với các khu vực nông thôn bằng bộ khung kết cấu hạ tầng đồng bộ theo xu hướng khai thác hiệu quả quỹ đất; hệ thống giao thông phải đảm bảo gắn kết các đô thị, điểm dân cư và các KCN tập trung. Triển khai việc quy hoạch xây dựng hệ thống đô thị ở khu vực nông thôn theo quá trình công nghiệp hóa của lãnh thổ và trên địa bàn khu vực nông thôn. Tạo ra một hệ thống đô thị nhằm cơ cấu lại nền kinh tế nông thôn theo hướng tăng vững chắc tỷ trọng công nghiệp nhỏ và dịch vụ tổng hợp.

b. Giai đoạn 2015 - 2020:

(1) Đầu tư phát triển mạnh các KKT thành trung tâm kinh tế và đô thị quan trọng của Vùng và cả nước. Trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, phù hợp với sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước nhằm thực hiện đường lối CNH, HĐH và đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường góp phần phát triển bền vững cho Vùng.

Nhanh chóng phát triển các KKT thành những địa bàn tập trung phát triển công nghiệp, du lịch, thương mại, trung tâm thông tin và giao dịch quốc tế của Vùng, trung tâm công nghiệp của Vùng với nhiều ngành công nghiệp phù hợp với lợi thế vị trí địa lý. Để tập trung đầu tư trọng điểm tạo sản phẩm xuất khẩu, dự tính xây dựng các KCN tập trung ở khu vực thuận lợi về giao lưu, thu hút lao động và tận dụng được hạ tầng.

Phát triển nhanh các khu phi thuế quan, các trung tâm thương mại ở KKT và các trung tâm dịch vụ du lịch, các khu du lịch trọng điểm. Đây vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp có tính chiến lược, có vai trò quan trọng để tạo ra bước phát triển nhanh lĩnh lực dịch vụ của tỉnh.

(2) Chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh của từng địa phương trong Vùng để nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa của tất cả các địa phương. Tạo bước đột phá về chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất trong từng ngành, từng lĩnh vực của từng địa phương và trên tổng thể cả Vùng, gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa; nâng cao rõ rệt chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các sản phẩm, các doanh nghiệp trên địa bàn Vùng.

(3) Nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ giá trị cao đạt đẳng cấp quốc gia và quốc tế như: dịch vụ tài chính, ngân hàng, dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ y tế cho khách du lịch, dịch vụ du lịch văn hóa, du lịch hội nghị - hội thảo. Phát triển hệ thống hạ tầng thương mại - dịch vụ, hình thành một số trung tâm đại lý phân phối bán sỉ, các trung tâm thương mại và hệ thống siêu thị hiện đại, văn minh, mặt hàng đa dạng… là nơi tham quan, mua sắm cho cả khách du lịch và dân cư tại chỗ.

Đầu tư xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng, Huế, Nha Trang trở thành các trung tâm kinh tế lớn của vùng duyên hải miền Trung và Tây Nguyên với các chức năng: Trung tâm thương mại, văn hóa, du lịch và dịch vụ; đầu mối giao thông quan trọng (cảng biển, sân bay quốc tế, giao thông xuyên Việt, xuyên Á) về trung chuyển và vận tải quốc tế của miền Trung, Tây Nguyên và các nước khu vực sông Mekong. Xây dựng khu sinh dưỡng công nghiệp (nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, công nghệ cho các xí nghiệp công nghiệp) trung tâm tài chính, ngân hàng và bưu chính viễn thông của khu vực miền Trung; một trong những trung tâm văn hóa, giáo dục, đào tạo, trung tâm khoa học công nghệ của miền Trung; một trong những địa bàn giữ vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng khu vực miền Trung, Tây Nguyên và cả nước. Đầu tư phát triển các thành phố, thị xã tỉnh lỵ khác trong cả Vùng thành các trung tâm đô thị hiện đại, văn minh làm các hạt nhân phát triển kinh tế của cả Vùng.

5. Khu kinh tế - Khu công nghiệp

a. Bản đồ quy hoạch

b. Khu kinh tế

Toàn vùng hiện có 6 khu kinh tế với tổng diện tích là 123.571 ha, chia đều cho 06 tỉnh, ngoại trừ Đà Nẵng; bao gồm KTT Chân Mây - Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), KTT Mở Chu Lai (Quảng Nam), KTT Dung Quất (Quảng Ngãi), KTT Nhơn Hội (Bình Định), KTT Nam Phú Yên (Phú Yên) và KTT Vân Phong (Khánh Hòa).

Hầu hết các KTT đều hoàn thành cơ bản phần đầu tư cơ sở hạ tầng và đang trong quá trình hoạt động (ngoại trừ KTT Nam Phú Yên). Cụ thể:

- KTT Chân Mây - Lăng Cô: là một Khu kinh tế mở có diện tích tự nhiên 27.108ha, với hệ thống cơ sở hạ tầng đang được đầu tư xây dựng một cách đồng bộ, cùng với các cơ chế chính sách ưu đãi nhất, Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô đã và đang tạo ra một môi trường thuận lợi trong việc thu hút đầu tư hình thành khu đô thị mới, khu công nghiệp tập trung, trung tâm thương mại dịch vụ và các khu du lịch, nghỉ dưỡng cao cấp. Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô sẽ được phát triển theo mô hình khu kinh tế tổng hợp với cơ chế chính sách "mở", bao gồm năm khu chức năng chính: Khu phi thuế quan: 1.080 ha; Khu đô thị: 1.965 ha; Khu du lịch: 2.435 ha; Khu cảng Chân Mây: 370 ha; Khu công nghiệp - công nghệ cao: 2.070 ha.

- KTT Mở Chu Lai: tính đến ngày 30 tháng 7 năm 2010, có 61 dự án đã và đang triển khai hoạt động với tổng số vốn đăng ký khoảng 1.562 triệu USD. Trong đó, có 17 dự án đầu tư nước ngoài và 44 dự án đầu tư trong nước, với số vốn đăng ký lần lượt là 195 triệu USD 1.367 triệu USD.

- KTT Dung Quất: đến nay đã có 112 dự án cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng số vốn 114.022 tỷ đồng. Ngoài ra còn có 35 dự án chấp thuận đầu tư với tổng vốn 48.623 tỷ đồng.

- KTT Nhơn Hội: lũy kế đến nay đã có 32 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký 32.506 tỷ đồng, trong đó có 07 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký 495,72 triệu USD. Tuy nhiên vốn thực hiện của các dự án ước đạt khoảng 1.530 tỷ đồng.

- KTT Vân Phong: trước khi thành lập tại KTT Vân Phong đã có 21 dự án đi vào hoạt động (gồm 12 dự án nước ngoài và 9 dự án trong nước với tổng vốn thực hiện tương ứng là 321,86 triệu USD và 86,62 tỷ đồng). Kể từ sau khi thành lập đến hết quý I năm 2011 KTT Vân Phong đã thu hút được 80 dự án (bao gồm 11 dự án nước ngoài và 69 dự án trong nước với tổng số vớn đầu tư đăng ký tương ứng là 13,17 tỷ USD và 47.630 tỷ đồng).  

c. Khu công nghiệp

Toàn Vùng hiện có 34 khu công nghiệp, được phân bố dọc 7 tỉnh miền Trung từ Thừa Thiên Huế đến Khánh Hòa, chiếm diện tích khoảng 8.072 ha. Các khu công nghiệp phần lớn tập trung phát triển các ngành công nghiệp chủ lực có quy mô lớn như lọc hóa dầu, năng lượng, lắp ráp ô tô, sửa chữa và đóng mới tàu biển, chế biến nông lâm thủy sản, hóa chất, vật liệu xây dựng, khai khoáng, cơ khí, điện, điện tử, điện lạnh, công nghiệp thông tin, dệt may, da dày… với sản phẩm chủ lực là hóa dầu, thủy điện, ô tô, hải sản, dệt may, da dày, cao su…

 

Công nghiệp dệt may xuất khẩu

d. Khu công nghệ cao

Trong vùng hiện có 01 khu công nghệ cao (CNC) tại thành phố Đà Nẵng, với diện tích 1.010 ha, trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Khu CNC Đà Nẵng có chức năng nghiên cứu, ươm tạo, phát triển, chuyển giao, ứng dụng CNC; đào tạo nhân lực CNC; ươm tạo doanh nghiệp CNC; sản xuất, kinh doanh, dịch vụ CNC; đẩy mạnh ứng dụng và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư mạo hiểm. 

Tại đây tập trung phát triển các nhóm ngành công nghiệp sản xuất công nghệ cao như công nghiệp sản xuất máy tính cá nhân/thiết bị ngoại vi, máy văn phòng; công nghiệp sản xuất linh phụ kiện cho máy bay; công nghiệp sản xuất trang thiết bị thông tin liên lạc; công nghiệp sản xuất phần mềm công nghệ thông tin; công nghiệp quang điện tử; công nghiêp sản xuất mạch tổ hợp, chất bán dẫn; công nghiệp cơ khí chính xác: sản xuất trang thiết bị khoa học (thiết bị y tế, thiết bị đo lường chính xác, dụng cụ quang học...); công nghiệp ứng dụng các công nghệ nền của công nghệ sinh học hiện đại để tạo ra sản phẩm phục vụ các ngành nông nghiệp; chế biến thực phẩm; sản xuất ra các sản phẩm dùng trong ngành y và công nghiệp dược phẩm; bảo vệ môi trường; vật liệu; công nghiệp vật liệu mới; polyme; công nghiệp xử lý môi trường; thân thiện môi trường; công nghiệp năng lượng; công nghiệp vũ trụ (ứng dụng cho dự báo thiên tai và thời tiết) và nhóm ngành công nghiệp dịch vụ công nghệ cao như dịch vụ truyền thông; dịch vụ tài chính và bảo hiểm; dịch vụ doanh nghiệp; logistic; và các dịch vụ khác.  

6. Xuất - nhập khẩu

Kim ngạch xuất khẩu 7 tỉnh duyên hải miền Trung đã tăng khoảng 1,6 lần trong giai đoạn 2007 - 2010, với tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 16,45%. Năm 2010 đạt 2.650.674 nghìn USD năm 2010, trong đó tỉnh dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu là Khánh Hòa với tổng giá trị xuất khẩu năm 2010 đạt 683.000 nghìn USD, tiếp theo là Đà Nẵng với 634.454 nghìn USD.

Mặc dù cũng có sự tăng trưởng nhưng cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của các tỉnh trong vùng trong thời gian qua cho thấy vẫn tập trung chủ yếu vào các sản phẩm thâm dụng lao động, có hàm lượng công nghệ thấp và hàng nông sản.

Đặc biệt kim ngạch nhập khẩu của các tỉnh/thành phố tăng mạnh trong giai đoạn 2007 - 2010 với tốc độ tăng bình quân hàng năm trên 62%. Năm 2010 tổng kim ngạch nhập khẩu 7 tỉnh là 5.454.311 nghìn USD tăng gấp 4,26 lần so với năm 2007. Trong đó, cơ cấu mặt hàng nhập khẩu chuyển dịch theo hướng gia tăng giá trị hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, dụng cụ, phục tùng… phục vụ sản xuất, việc nhập khẩu hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng ngày càng thấp.

7. Dịch vụ

a. Dịch vụ hàng hải

Các tỉnh duyên hải miền Trung có hệ thống cảng biển khá dày. Hầu như tỉnh nào cũng có cảng biển, bao gồm: cảng biển loại 1 như Cảng Chân Mây (Thừa Thiên Huế), Cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), Cảng biển Dung Quất (Quảng Ngãi), Cảng biển Quy Nhơn (Bình Định), Cảng biển Vân Phong, Nha Trang, Ba Ngòi (Khánh Hòa)... và các cảng biển loại 2 như: Cảng Thuận An, Cảng Kỳ Hà, Cảng Sa Kỳ, Cảng Vũng Rô. Với hệ thống cảng biển này là cơ sở để xây dựng các khu kinh tế tổng hợp, các đặc khu kinh tế, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, tăng cường mở rộng xuất nhập khẩu, thương mại và mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới.

Mặc dù có hệ thống các cảng biển nằm dọc các tỉnh trong Vùng nhưng khối lượng vận chuyển hành khách cũng như hàng hóa bằng đường biển trong Vùng chiếm tỷ trọng thấp và có xu hướng giảm qua các năm.

 

Tàu Container cập cảng Tiên Sa – Đà Nẵng

Tỷ trọng vận chuyển hành khách bằng đường biển chỉ chiếm 0,25% trong tổng hành khách vận chuyển năm 2007, đến năm 2010, tỷ trọng chỉ còn 0,13%. Tương tự, tỷ trọng khối lượng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển cũng giảm từ 2,75% năm 2007 xuống còn 0,92% năm 2010.

Khối lượng vận chuyển của 7 tỉnh duyên hải miền Trung

 

ĐVT

2007

2008

2009

2010

Hành khách

Nghìn người

90.459

93.859

106.841

117.533

Trong đó vận chuyển bằng đường biển

-nt-

225

132

140

156

Hàng hóa

Nghìn tấn

42.470

54.881

60.537

70.307

Trong đó vận chuyển bằng đường biển

-nt-

1.168,47

1.014,00

877,00

644,00

             Nguồn: Cục Thống kê các tỉnh, thành phố (2010)

b. Dịch vụ hậu cần nghề cá

Với lợi thế về biển, đảo nên việc phát triển ngành thủy sản thành ngành kinh tế quan trọng là xu thế tất yếu của các tỉnh duyên hải miền Trung. Thời gian qua các cảng cá, dịch vụ hậu cần nghề cá được đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, kinh doanh các sản phẩm hải sản của các tỉnh trong Vùng. Tuy nhiên dịch vụ hậu cần nghề cá của các tỉnh, thành trong Vùng có nhiều sự khác biệt. Cụ thể:

- Thừa Thiên Huế: Có 32 âu thuyền lớn nhỏ nằm rải rác ở các xã ven biển và đầm phá, nhưng chỉ có 12 âu thuyền được xây dựng đảm bảo cho việc neo đậu tàu thuyền. Hiện Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thừa Thiên Huế đang hoàn thiện khu neo đậu tàu thuyền trú bão tại Phú Hải (huyện Phú Vang) trên diện tích 11,6ha, với tổng vốn 37 tỷ đồng. Công trình đang hoàn thành và đưa vào phục vụ trong mùa mưa bão 2010. Tuy nhiên, khu neo đậu tàu thuyền trú bão Phú Hải cũng chỉ có sức chứa 500 chiếc tàu thuyền có công suất từ 40-350CV/chiếc, còn nhiều tàu thuyền khác vẫn thiếu chỗ trú. Tỉnh cũng có các cảng cá như Cảng cá Thuận An, Tân Mỹ.

- Đà Nẵng: Đến năm 2010 tổng số tàu thuyền cá hiện có 1.763 chiếc, tổng công suất 73.312 Cv; trong đó, tàu công suất 90 Cv trở lên có 182 chiếc. Công suất tàu thuyền bình quân của thành phố năm 2010 là 41,6 Cv/chiếc (so với năm 1997 tăng 16,7 Cv/chiếc).

Trong khai thác hải sản đã hỗ trợ thành lập 91 tổ khai thác hải sản, với 572 tàu cá, trong đó có 54 tổ khai thác xa bờ, 33 tổ khai thác tuyến lộng và 4 tổ khai thác ven bờ. Phát triển khai thác theo tổ, đội là xu hướng tất yếu trong việc chuyển từ nghề cá thủ công, nhỏ lẻ sang nghề cá quy mô lớn, hiện đại. Cùng với sự phát triển của khai thác hải sản, cơ sở hạ tầng nghề cá đã được đầu tư, phát triển. Thành phố đã quy hoạch và phát triển trung tâm nghề cá tại khu vực phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, so với các địa phương trong khu vực và cả nước thì cơ sở hạ tầng nghề cá đã được đầu tư khá đồng bộ như: khu Âu thuyền trú bão, cảng cá, khu dịch vụ hậu cần, chợ đầu mối thủy sản,… tạo điều kiện thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển kinh tế thủy sản. Giá trị sản xuất thủy sản chiếm trên 60% trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của thành phố, sản lượng khai thác tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 là 2,2%/năm.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với những khó khăn chung của ngành thủy sản thì các lĩnh vực kinh tế thủy sản của thành phố Đà Nẵng gặp nhiều khó khăn, thách thức. Sự phát triển của ngành thủy sản ở Đà Nẵng đang lâm vào tình trạng mất cân đối nghiêm trọng. Trong khi lĩnh vực khai thác, đóng sửa tàu thuyền đang teo dần, thì nhà máy chế biến cứ ra đời và nay đang lãng phí trong đầu tư vì thiếu nguyên liệu.

- Quảng Nam: Tỉnh sẽ quy hoạch 4 khu neo đậu là: Cửa Đại – thành phố Hội An, quy mô 600 tàu công suất 300 CV, kết hợp cảng cá Cẩm Thanh; Cù Lao Chàm - thành phố Hội An, quy mô 100 tàu công suất 90 CV; An Hòa - huyện Núi Thành, quy mô 1200 tàu công suất 300 CV; Vụng Hồng Triều - huyện Duy Xuyên, quy mô 1000 tàu công suất 350 CV, kết hợp cảng cá Hồng Triều.

- Quảng Ngãi: Đường bờ biển của tỉnh dài hơn 130 km, sáu cửa biển, luồng cảng lớn là Sa Cần, Sa Kỳ (huyện Bình Sơn), Tịnh Kỳ (Sơn Tịnh), Cửa Ðại (Tư Nghĩa), Mỹ Á, Sa Huỳnh (Ðức Phổ) và huyện đảo Lý Sơn. Toàn tỉnh hiện có 5.580 tàu cá, với tổng công suất 467.000 CV (trong đó 60% tàu cá hoạt động ngoài tỉnh, 40% tàu hoạt động trong tỉnh). Như vậy, cơ sở hạ tầng cho nghề cá của tỉnh là rất lớn. Phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá Quảng Ngãi đã có bước tiến đáng kể, song so với yêu cầu vẫn chưa ngang tầm với một tỉnh có nghề khai thác thủy sản mạnh, giàu tiềm năng.

Sự hình thành các cảng cá, vũng neo đậu trú bão tàu cá ở các vùng trọng điểm như: Vũng neo đậu tàu thuyền và Khu dịch vụ hậu cần nghề cá Lý Sơn, Khu neo đậu tàu thuyền Tịnh Hoà (Sơn Tịnh), cảng cá Sa Huỳnh (Đức Phổ), cầu cảng cá sông Trà Bồng (Bình Đông - Bình Sơn), ngoài ra đang chuẩn bị triển khai dự án thông luồng và xây dựng khu neo đậu tàu thuyền Mỹ Á, thông luồng cửa Đại và xây dựng khu dịch vụ hậu cần nghề cá Cổ Lũy, Khu neo trú bão Sa Kỳ... đang và sẽ tạo điều kiện thúc đẩy cơ sở hậu cần dịch vụ nghề cá phát triển mạnh.

Toàn tỉnh hiện có 27 cơ sở đóng sửa tàu thuyền phân bổ rải rác ở các vùng biển như Bình Sơn có 5 cơ sở, Sơn Tịnh 12 cơ sở, Tư Nghĩa 5 cơ sở, Đức Phổ 5 cơ sở. Các cơ sở đóng sửa tàu thuyền phải tự cung ứng nguyên vật liệu, việc phát triển đóng sửa tàu cá ở nhiều địa phương còn mang tính tự phát và rất khó quản lý. Sản lượng khai thác chủ yếu được bán thông qua các nậu vựa, toàn tỉnh có 8 cơ sở chế biến hải sản trên thực tế mạng lưới nậu vựa cũng chính là đầu mối cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến.

Các dịch vụ cung cấp dầu nhớt, trang thiết bị hàng hải, sửa chữa máy thủy, chế biến hàng khô, chế biến nước mắm đã hình thành tại các cảng cá, đáp ứng kịp thời cho nhu cầu sản xuất. Tuy nhiên, công tác quy hoạch ngành chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

- Bình Định: Với các cảng cá được xây dựng và hoàn thiện như cảng cá Nhơn Châu, Quy Nhơn, Đề Gi, Tam Quan và các cảng các được nâng cấp, cải tạo như các bến cá Hà Ra - Phú Thứ, Xuân Thạnh, Tân Phụng (Phù Mỹ); An Dũ (Hoài Nhơn); Nhơn Lý, Nhơn Hải, Đống Đa (Quy Nhơn). Đồng thời tỉnh còn xây dựng các Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá, Khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão tại: Tam Quan Bắc, Đề Gi, Quy Nhơn. Tuy nhiên, hiện nay, hệ thống cảng cá, bến cá của tỉnh chỉ đáp ứng được khoảng 50 - 60% số lượng tàu thuyền trong tỉnh ra vào neo đậu bán sản phẩm và lấy “tổn” (nhiên liện lương thực, thực phẩm, nước đá…). Điều này đã dẫn đến tình trạng sau khi khai thác nhiều tàu thuyền trong tỉnh ngại về đây bán sản phẩm, mà tìm đến các cảng cá, bến cá trong khu vực để bán sản phẩm và lấy “tổn” rồi quay lại ngư trường khai thác…

c. Dịch vụ tài chính - ngân hàng

Đóng góp cho sự phát triển của khu vực duyên hải miền Trung thời gian qua, các ngân hàng thương mại (NHTM) nói chung đã triển khai nhiều chương trình, chính sách ưu đãi về vốn, tín dụng, lãi suất… cung cấp các dịch vụ tài chính - ngân hàng chất lượng, với mạng lưới rộng khắp phục vụ phát triển kinh tế địa phương. Trong vùng nổi lên một số địa phương có những thế mạnh trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng như:

- Thừa Thiên Huế: Với 6 NHTM quốc doanh, 15 NHTM cổ phần, 7 quỹ tín dụng nhân dân (chưa kể các tổ chức tín dụng khác) hiện diện trên địa bàn, là cơ sở để Thừa Thiên Huế hướng đến một trung tâm dịch vụ tài chính ngân hàng trong tương lai.

Ngoài các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống, một số NHTM thực hiện kết nối trực tiếp khách hàng qua phương tiện viễn thông, liên kết thu hộ thuế. Các dịch vụ tiện ích đi kèm thẻ ngày càng được đa dạng hóa như thẻ mua xăng dầu, mua hàng qua mạng, triển khai ứng dụng hình thức giải ngân chương trình tín dụng học sinh sinh viên qua thẻ ATM... Đây là cơ sở để phát triển mạnh phương thức thanh toán không dùng tiền mặt ở nhiều lĩnh vực trên địa bàn trong năm 2011 và những năm tiếp theo.

Các NHTM đã và đang tiếp tục triển khai trên diện rộng dịch vụ thanh toán hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại qua dịch vụ thẻ; cung cấp dịch vụ ngân hàng Internet Banking, Mobile Banking cho chủ tài khoản; mở rộng dịch vụ cho vay vốn trả góp mua ô tô được phối hợp với các đại lý bán xe và dựa trên thu nhập, tài sản đảm bảo tiền vay của người mua ô tô, với thời hạn được vay lên tới 4 - 5 năm và số tiền vay tương ứng 60-90% giá mua xe...

- Đà Nẵng: Đến cuối năm 2010, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 55 chi nhánh tổ chức tín dụng với nhiều loại hình (gồm chi nhánh ngân hàng Nhà nước, chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội, 03 văn phòng đại diện của các NHTM, 04 chi nhánh ngân hàng thương mại Nhà nước, 04 chi nhánh ngân hàng liên doanh, 01 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 37 chi nhánh NHTM, 02 chi nhánh công ty cho thuê tài chính và 02 chi nhánh công ty tài chính), 222 phòng giao dịch, điểm giao dịch, Quỹ tiết kiệm..., 344 máy ATM, 1.346 máy POS trải đều các quận, huyện, xã, phường trong thành phố, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế và người dân tiếp cận các dịch vụ ngân hàng.

Các dịch vụ ngân hàng điện tử như Phone banking, Internet banking, Home banking... đang được từng bước triển khai và đem lại nhiều tiện ích, gia tăng giá trị cho người sử dụng. Ngoài ra, các ngân hàng còn mở rộng các dịch vụ khác như bảo lãnh, bao thanh toán (Factoring), các nghiệp vụ phái sinh tiền tệ, lãi suất, tỷ giá, cho thuê văn phòng, dịch vụ đại lý bảo hiểm, dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ môi giới nhà đất, môi giới đầu tư, dịch vụ xác nhận tài sản bằng tiền, phát hành thư bảo lãnh cho du học sinh... góp phần xây dựng hệ thống dịch vụ ngân hàng đa dạng, đa tiện ích đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của mọi đối tượng khách hàng.


Tài liệu tham khảo 

1. Niên giám thống kê các tỉnh, thành phố năm 2007-2010

2. Số liệu của Tổng Cục Thống kê Việt Nam năm 2010

3. Nguyễn Bá Ân (2011), Tăng cường phối hợp giữa các địa phương trong vùng để phát huy lợi thế cạnh tranh của 7 tỉnh duyên hải miền Trung. Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Liên kết phát triển 7 tỉnh duyên hải miền Trung.

4. Trần Du Lịch (2011), Báo cáo đề dẫn Hội thảo khoa học Liên kết phát triển 7 tỉnh Duyên hải Miền Trung. Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Liên kết phát triển 7 tỉnh duyên hải miền Trung)

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
Tin đọc nhiều
43.463 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
21.541 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
20.791 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
19.316 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
16.815 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
15.035 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p