10:27 12/03/2012
Cỡ chữ

1. Thực trạng mạng lưới Y tế Vùng DHMT

7 tỉnh, thành phố vùng duyên hải miền Trung (sau đây gọi tắt là Vùng) bao gồm: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa, có một vị trí chiến lược quan trọng đối với sự phát triển chung của cả nước. Việc liên kết phát triển Vùng trên tất cả các lĩnh vực như du lịch, giáo dục - đào tạo, đầu tư, kinh tế, y tế… có một vai trò đặc biệt quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hội nhập hiện nay.

Trong lĩnh vực y tế, Vùng duyên hải miền Trung là nơi có một mạng lưới y tế rộng khắp nhằm đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh, điều trị cho nhân dân trong vùng. Theo thống kê năm 2010, tổng số cơ sở y tế của 7 tỉnh, thành phố thuộc Vùng là 2.037 cơ sở, với 19.790 giường bệnh (chưa tính thành phố Đà Nẵng và số lượng này của thành phố Đà Nẵng năm 2009 là 3819 giường), 5.573 bác sĩ và 2.121 cán bộ ngành dược (trong đó chưa có thống kê của thành phố Đà Nẵng). Tỉnh Khánh Hòa có số lượng cơ sở y tế nhiều nhất với 925 cơ sở, thành phố Đà Nẵng có ít nhất với 81 cơ sở. Trong đó, tỉnh Quảng Nam là tỉnh có số bệnh viện nhiều nhất với 26 bệnh viện; tỉnh Phú Yên ít nhất với 12 bệnh viện. Tỉnh Thừa Thiên Huế có số giường bệnh và bác sĩ nhiều nhất với 4.649 giường và 1.477 bác sĩ. Bình Định là tỉnh có số lượng cán bộ dược nhiều nhất vùng với số lượng 679 người.

Bảng 1: Thực trạng mạng lưới y tế Vùng duyên hải miền Trung

Chỉ tiêu

ĐVT

Thừa Thiên Huế

Đà Nẵng

Quảng Nam

Quảng Ngãi

Bình Định

Phú Yên

Khánh Hòa

Cơ sở y tế

cơ sở

191

81

277

221

184

158

925

Bệnh viện

 

22

22

26

18

18

12

13

- Nhà nước

 

19

17

24

 

17

 

13

- Ngoài nhà nước

 

3

5

2

 

1

 

 

Phòng khám đa khoa khu vực

 

14

 

9

9

6

13

350

- Nhà nước

 

14

 

9

 

6

 

15

- Ngoài nhà nước

 

0

 

 

 

 

 

335

Bệnh viện điều dưỡng

 

 

 

 

 

1

 

 

Trạm y tế xã, phường, nhà hộ sinh

 

153

56

242

181

159

99

146

Trạm y tế cơ quan, xí nghiệp

 

2

 

 

 

 

 

416

Trung tâm y tế

 

 

3

 

 

 

 

 

Các cơ sở y tế khác (y học dân tộc, chi cục ATVSTP…)

 

 

 

 

13

 

34

 

Giường bệnh

 

4.649

3819 (2009)

4046

2816

3310

1635

3334

Bệnh viện

giường

3973

 

2729

2070

3260

1230

2910

- Nhà nước

 

3875

 

2552

 

3200

 

2910

- Ngoài nhà nước

 

98

 

177

 

60

 

 

Bệnh viện điều dưỡng

 

 

 

 

 

50

 

 

Phòng khám đa khoa khu vực

 

185

 

108

107

 

65

252

- Nhà nước

 

185

 

108

 

 

 

252

- Ngoài nhà nước

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhà hộ sinh

 

15

 

4

 

 

 

30

Trạm y tế xã, phường

 

456

 

1205

587

 

310

140

Trạm y tế cơ quan, xí nghiệp

 

20

 

 

 

 

 

2

Các cơ sở y tế khác (y học dân tộc, chi cục ATVSTP,…)

 

 

 

 

52

 

30

 

Nhân lực

người

 

 

 

 

 

 

 

Cán bộ ngành y

 

4129

 

3034

 

3646

1971

2516

- Bác sĩ

 

1477

1.100

670

545

768

427

586

- Y sĩ

 

585

 

1034

917

539

569

536

- Y tá

 

1455

 

834

1011

1575

623

983

- Nữ hộ sinh

 

612

 

496

568

400

346

411

- Lương y

 

 

 

 

 

 

6

 

Cán bộ ngành dược

 

465

 

313

161

679

186

317

- Dược sĩ cao cấp

 

87

 

36

23

121

24

25

- Dược sĩ trung cấp

 

289

 

237

126

379

76

221

- Dược tá

 

89

 

40

12

179

86

71

Nguồn: Theo Niên giám thống kê năm 2010 của 7 tỉnh, thành phố: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa

2. Hệ thống cơ sở y tế Vùng

2.1. Cơ sở khám chữa bệnh

2.1.1. Các bệnh viện công lập

a. Bệnh viện Trung ương  

* Bệnh viện Trung ương Huế

Bệnh viện Trung ương Huế (Bệnh viên TW Huế) được thành lập từ năm 1894, là một trong ba bệnh viện lớn nhất ở Việt Nam, Trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, là nơi đào tạo thực hành cho các cán bộ đại học, sau đại học, điều dưỡng....

Bệnh viện trung ương Huế

Đây là một bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh, hạng đặc biệt với 58 khoa, phòng, trong đó gồm 36 khoa lâm sàng, 13 cận lâm sàng, 11 phòng chức năng và 5 trung tâm với qui mô 2.170 giường bệnh nội trú và 70 giường lưu (nhưng bệnh nhân thường xuyên là 2.400 - 2.700). Bệnh viện hiện có hơn 2.000 cán bộ viên chức, trong đó cán bộ đại học và sau đại học là 419, bao gồm 3 thầy thuốc nhân dân, 36 thầy thuốc ưu tú, 22 giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ và 224 bác sĩ, dược sĩ, CKI, CKII và thạc sĩ. Ngoài ra còn có 152 cán bộ của Trường Đại học Y khoa Huế làm việc tại bệnh viện.

Hàng năm, bệnh viện tiếp nhận khoảng trên 85.000 bệnh nhân điều trị nội trú, hơn 350.000 lượt bệnh nhân đến khám và điều trị ngoại trú, điều trị cho rất nhiều bệnh nhân người nước ngoài du lịch, công tác và làm việc tại khu vực miền Trung và Thừa Thiên Huế, phẫu thuật hơn 25.000 ca/năm (33 phòng mổ).

Trong giai đoạn vừa qua, Bệnh viên TW Huế đã tiếp nhận và triển khai nhiều dự án chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Thừa Thiên Huế và các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên, bao gồm: Trung tâm kỹ thuật cao (ODA - Nhật Bản), Trung tâm Tim mạch với kỹ thuật và phương tiện hiện đại nhất Đông Nam Á, Khoa Nhi (Atlantic Phylantrophy, Hoa Kỳ), Khu nhà Hậu cần, Trung tâm đào tạo, Bệnh viện Quốc tế... Bệnh viên TW Huế thực hiện được hầu hết các kỹ thuật của tất cả các chuyên khoa trong danh mục phân tuyến kỹ thuật của ngành y tế (3.040 kỹ thuật các loại và hàng trăm kỹ thuật mới được triển khai thực hiện hàng năm) và là đơn vị đi đầu trong việc triển khai các kỹ thuật cao như: ghép tim (trường hợp đầu tiên hoàn toàn do các thầy thuốc Việt Nam thực hiện), phẫu thuật tim hở (1.000 ca/năm), điều trị rối loạn nhịp tim (loại rung nhĩ mạn tính) bằng sóng cao tần (RF), tim mạch can thiệp (nong mạch vành, đặt stent, điều trị loạn nhịp bằng điện sinh lý tim, tạo nhịp vĩnh viễn 1 buồng, 2 buồng,...), phẫu thuật nội soi (2.000 ca/năm), nội soi can thiệp, ghép thận, ghép tủy, ghép giác mạc, vi phẫu tạo hình, thụ tinh nhân tạo trong ống nghiệm (IVF),... Đặc biệt, tháng 3.2011, bệnh viện đã triển khai thành công trường hợp ghép tim đầu tiên trên người cho chết não.

* Bệnh viện C Đà Nẵng

Là một bệnh viện thuộc Bộ Y tế với hơn 30 năm xây dựng và phát triển, bệnh viện ngày càng khẳng định được vai trò và vị trí của mình trong lĩnh vực khám chữa bệnh, tạo ra một thương hiệu riêng của mình trong khu vực duyên hải miền Trung - Tây Nguyên. Trong những năm qua, ngoài việc đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, khám và chữa bệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng cho cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước khu vực miền Trung - Tây Nguyên, bệnh viện còn làm nhiệm vụ của phân Hội đồng giám định y khoa, khám phục quyết cho thương binh, bệnh binh và các đối tượng lao động mất sức, cho đối tượng nhiễm dioxin.

Trong những năm gần đây, bệnh viện đã có sự đầu tư và phát triển vượt bậc về khoa học kỹ thuật, đội ngũ y bác sĩ được đào tạo chuyên sâu cùng với những trang thiết bị hiện đại trong việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý, đã bước đầu thành công trong việc chẩn đoán chụp và can thiệp mạch vành, theo dõi áp lực tim mạch, nội soi cột sống, tiêu hoá, phục hồi chức năng…, giúp cho nhiều bệnh nhân được điều trị kịp thời.

Bệnh viện 600 giường Đà Nẵng

b. Bệnh viện y tế chuyên sâu   

* Bệnh viện Mắt Huế

Bệnh viện Mắt Huế là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Y tế Thừa Thiên Huế, chịu sự quản lý toàn diện của giám đốc Sở Y tế, chịu sự chỉ đạo về chuyên môn kỹ thuật của Bệnh viện Mắt Trung ương. Bệnh viện Mắt Huế có chức năng triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật về phòng chống, khám chữa bệnh về chuyên khoa mắt cho nhân dân trong tỉnh và các tỉnh trong vùng, phát triển theo hướng chuyên khoa sâu của khu vực miền Trung.

Các chương trình dự án: Dự án CBM về giải phóng mù lòa, hợp tác với tổ chức Christoffel Blindenmission CHLB Đức. Dự án ORBIS về nâng cao năng lực chăm sóc mắt trẻ em, hợp tác với tổ chức ORBIS (Mỹ) từ năm 2006 -2009 với tổng kinh phí 233.588 USD. Dự án Quỹ Fred Hollows (FHF) về nâng cao năng lực chăm sóc mắt cho Bệnh viện Mắt Huế và cộng đồng, hợp tác với tổ chức phòng chống mù lòa FHF từ 2007-2009 với tổng kinh phí là 320.000 USD.

* Bệnh viện Y học Cổ truyền Thừa Thiên Huế

Bệnh viện là đơn vị sự nghiệp y tế, trực thuộc Sở Y tế Thừa Thiên Huế, là tuyến khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền cao nhất của địa phương. Với nhiệm vụ khám chữa bệnh kế thừa và nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, chỉ đạo tuyến Phòng chống dịch bằng phương pháp y học cổ truyền hoặc kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại khi có bệnh dịch xảy ra trên địa bàn; tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng; tổ chức bào chế thuốc phiến và một số dạng thuốc cổ truyền thông dụng (cao, đơn, hoàn, tán, rượu...) dùng trong bệnh viện; quản lý kinh tế y tế: quản lý và sử dụng có hiệu quả ngân sách Nhà nước cấp và các nguồn kinh phí khác; thực hiện thanh quyết toán đúng theo quy định của pháp luật; tham gia các chương trình hợp tác quốc tế về YHCT với các tổ chức và cá nhân nước ngoài theo quy định của Nhà nước.

* Bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Thừa Thiên Huế

Bệnh viện có 05 khoa: khoa PHCN trẻ em, khoa PHCN người lớn; khoa Bệnh người cao tuổi; khoa Khám bệnh; khoa Dược. Bệnh viện có các chức năng và nhiệm vụ chính:

- Điều trị, PHCN cho các trẻ khuyết tật. Tư vấn, phát hiện sớm và can thiệp sớm những trường hợp khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật.

- Điều trị và PHCN cho người lớn các bệnh lý thần kinh, cơ xương khớp, tim mạch, hô hấp và các bệnh lý mạn tính khác.

- Điều dưỡng cho các đối tượng chính sách, cán bộ an dưỡng .

- Xây dựng mạng lưới và triển khai chương trình PHCN dựa vào cộng đồng (CBR).

* Bệnh viện Tâm thần Quảng Ngãi

Bệnh viện được sự đầu tư của UBND tỉnh Quảng Ngãi, Sở Y tế Quảng Ngãi, Bệnh viện Tâm thần Trung ương. Bệnh viện Tâm thần Quảng Ngãi đã được xây dựng với qui mô thiết kế 100 giường bệnh và có quyết định thành lập từ ngày 13.07.2007. Chính thức đi vào hoạt động điều trị nội trú từ tháng 12.2008 với chỉ tiêu kế hoạch 70 giường bệnh, năm 2011 được nâng cao với chỉ tiêu kế hoạch 80 giường bệnh, đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân tỉnh nhà trong tình hình mới. Bệnh viện có nhà xây kiên cố, chắc chắn, đảm bảo an toàn, đảm bảo dây chuyền hoạt động liên hoàn, thuận tiện cho việc khám chữa bệnh, thực hiện chức năng của một bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, hạng III. Bệnh viện đã triển khai hoạt động khoa Khám bệnh - HSCC, khoa Tâm thần Nam, khoa Tâm thần Nữ, khoa Dược - Cận lâm sàng, phòng Tâm lý liệu pháp, khu căng tin. Tổ chức hoạt động dịch vụ y tế của bệnh viện chủ yếu là khám chữa bệnh, điều trị nội trú và ngoại trú cho nhân dân thuộc lĩnh vực chuyên khoa tâm thần kinh áp dụng theo các chế độ miễn phí, viện phí và BHYT theo đúng qui định ban hành và phù hợp với khả năng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Đặc biệt, bệnh viện ngày càng thu hút các đối tượng bệnh lý tâm căn và một số bệnh lý thần kinh khác đến khám bệnh ngày càng đông như: phản ứng stress, trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn dạng cơ thể, rối loạn giấc ngủ, các rối loạn mạch máu não (rối loạn tuần hoàn não, h/c Migraine, đau đầu vận mạch....) đau thần kinh vai gáy...qua các dịch vụ hỗ trợ cận lâm sàng như thực hiện các test tâm lý, đo điện não, đo lưu huyết não, đo điện cơ...

* Bệnh viện Phong - Da liễu Quy Hòa

Năm 1929, Linh mục Paul Maheure người Pháp, cùng với hơn 30 bệnh nhân phong kéo về Quy Hòa (Quy Nhơn), như những người đặt viên gạch đầu tiên để xây dựng Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa. Ngày 25.6.1976, dòng Phanxico bàn giao Bệnh viện Quy Hòa cho Bộ Y tế, bệnh viện Quy Hòa được đổi tên thành Khu Điều trị Phong Quy Hòa từ đây.

Với sự phát triển toàn diện và mạnh mẽ của tất cả các lĩnh vực, đặc biệt lĩnh vực chuyên môn và nghiên cứu khoa học, ngày 26.8.1999, Khu Điều trị Phong Quy Hòa được đổi tên thành Bệnh viện Phong - Da liễu Quy Hòa. Nhiệm vụ của bệnh viện không còn đơn điệu lẻ loi điều trị bệnh nhân phong, không còn bó hẹp trong làng phong Quy Hòa, mà đã mở rộng ra tất cả các lĩnh vực da liễu và hoa liễu, chỉ đạo và phụ trách 10 tỉnh (nay là 11 tỉnh) khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Lần đầu tiên người bệnh da liễu nặng ở miền Trung - Tây Nguyên có một bệnh viện chuyên ngành để chữa trị. Tại Quyết định số 539/QĐ-BYT ngày 02.3.2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế, bệnh viện được đổi tên thành Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa, có chức năng nhiệm vụ là khám chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi chức năng cho người bệnh phong và người bệnh da liễu, người bệnh HIV/AIDS ở tuyến cao nhất ở miền Trung - Tây Nguyên và một số bệnh chuyên khoa khác. Đây là cơ sở tham gia đào tạo chuyên ngành phong, da liễu và chỉ đạo tuyến, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật hiện đại để phục vụ sức khỏe nhân dân.

* Bệnh viện Mắt Phú Yên

Công trình Bệnh viện Mắt Phú Yên được khởi công xây dựng vào tháng 12.2009 với qui mô 50 giường, bao gồm 4 khoa lâm sàng, 1 phòng khám, 1 khoa cận lâm sàng, 2 phòng ban chức năng có khả năng nhận 3.000 - 4.000 lượt bệnh nhân điều trị và khám ngoại trú, cho 30.000 đến 40.0000 lượt bệnh nhân mỗi năm. Tổng mức đầu tư 23,29 tỉ đồng, trong đó tổ chức Atlantic Philanthropies thông qua Quỹ Fred Hollows (FHF) hỗ trợ 510.000 USD (tương đương 10 tỉ đồng), phần còn lại được đóng góp bởi ngân sách tỉnh. Các hạng mục do FHF tài trợ gồm khối hành chính, phòng khám đa khoa và điều trị nội trú, dược, khoa tổng hợp, khoa Ngoại nhãn chấn thương. Các hạng mục đầu tư từ ngân sách tỉnh gồm Khối nhà Glaucom đáy mắt, khoa dinh dưỡng và chống nhiễm khuẩn,  khoa mổ, hồi sức. Sắp tới, FHF còn tiếp tục hỗ trợ thiết lập mạng LAN và hệ thống quản lý thông tin cho Bệnh Viện Mắt Phú Yên. Hoạt động hỗ trợ xây dựng Bệnh viện Mắt Phú Yên là một hợp phần trong dự án "Chăm sóc mắt cộng đồng" kéo dài 6 năm tại tỉnh Phú Yên do Atlantic Philanthropies tài trợ thông qua quỹ Fred Hollows tại Việt Nam.

* Bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Khánh Hòa

- Lịch sử hình thành: Năm 1975, Sở Y tế Khánh Hòa tiếp quản Chẩn y Viện Tin Lành để làm Nhà điều dưỡng. Tháng 3.1997, UBND tỉnh ra quyết định số 574/QĐ-UB đổi tên Nhà điều dưỡng thành Trung tâm Điều dưỡng - Phục hồi chức năng. Ngày 10/8/1999, UBND tỉnh Khánh Hòa ra quyết định số 2740/1999/QĐ-UB đổi tên Trung tâm Điều dưỡng - Phục hồi chức năng thành Bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Khánh Hoà.

- Chức năng, nhiệm vụ: Là bệnh viện chuyên khoa trực thuộc Sở Y tế có chức năng thu dung điều trị, điều dưỡng và phục hồi chức năng cho những người mắc bệnh mãn tính, bệnh nghề nghiệp. Tham gia đào tạo cán bộ PHCN cho các đơn vị trong ngành và là cơ sở thực hành cho các trường y tế; chỉ đạo tuyến và triển khai chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.

- Tình hình hoạt động và những thành tựu: Bệnh viện phát triển nhiều kỹ thuật chẩn đoán - điều trị, tăng cường đào tạo nhân lực chuyên môn nên đã thu dung điều trị người bệnh ngày càng tăng và luôn vượt chỉ tiêu nhà nước giao.

- Cơ sở vật chất: Xây dựng mới khu nhà các chuyên khoa năm 2007, quy mô giường bệnh là 130 giường; Một số trang thiết bị y tế kỹ thuật cao: Oxy cao áp, Laser nội mạch, Laser quang châm công suất thấp, Thuỷ trị liệu, Holter điện tim,  Holter huyết áp…

- Kỹ thuật điều trị: Khám, điều trị các bệnh mãn tính, bệnh tim mạch, nội tiết… bằng YHHĐ kết hợp với YHCT; Phục hồi chức năng nhất là các bệnh lý cơ, xương, khớp, thần kinh ngoại biên và đặc biệt là PHCN tổn thương tủy sống; Phẫu thuật chỉnh hình các khuyết tật nhất là khuyết tật về vận động; Sản xuất dụng cụ trợ giúp như nạng, nẹp, chân tay giã…; Oxy cao áp điều trị bệnh giảm áp do lặn và nhiều bệnh lý  khác như di chứng tai biến mạch máu não, thiểu năng mạch vành, các vết loét khó lành trong bệnh đái tháo đường, viêm tắc động tĩnh mạch và nhiều bệnh lý khác; Laser nội mạch điều trị một số bệnh lý tim mạch; Điều trị trĩ bằng máy WDII…

- Định hướng phát triển 2010 - 2020: Quy mô giường bệnh vào khoảng 200 - 250 giường; xây dựng trung tâm y học biển đặt tại Bệnh viện Điều dưỡng - phục hồi chức năng; triển khai dịch vụ Du lịch chữa bệnh.

* Bệnh viện Chuyên khoa Tâm thần Khánh Hòa

Bệnh viện Chuyên khoa tâm thần được thành lập từ ngày 01.6.2000, Bệnh viện có 3 khoa lâm sàng (khoa Nam, khoa Nữ, khoaKhám bệnh), 1 khoa Dược, khoa Cận lâm sàng và khoa Xét nghiệm.

- Cơ sở vật chất: Được xây dựng từ năm 1981 và được nâng cấp năm 2000; Quy mô giường bệnh là 77 giường; Một số trang thiết bị y tế kỹ thuật cao như 1 máy điện não, 1 máy siêu âm, 1 máy lưu huyết não, 1 máy huyết học, 1 máy điện tim, 1 máy thở.

- Chức năng, nhiệm vụ: Khám và điều trị bệnh tâm thần cho bệnh nhân trong toàn tỉnh; quản lý và điều trị ngoại trú cho bệnh nhân khi ra viện; nghiên cứu khoa học; tham gia giảng dạy và đào tạo; hợp tác quốc tế; tuyên truyền phòng chống bệnh tâm thần.

- Kết quả công tác

+ Công tác tuyên truyền phòng chống bệnh: Bệnh viện đã thực hiện tốt tuyên truyền phòng chống bệnh qua truyền thanh, truyền hình, viết báo, đài, pano, tờ rơi, sách nhỏ.

+ Công tác điều trị bệnh nhân: Tổng số lần khám trong năm 2007: 65.627, công suất sử dụng giường bệnh năm 2007: đạt 139% và tổng số bệnh nhân quản lý điều trị ngoại trú năm 2007: 2779 bệnh nhân.

+ Công tác nghiên cứu khoa học: Bệnh viện khích lệ phong trào nghiên cứu khoa học hàng năm đều có đề tài nghiên cứu cấp cơ sở, năm 2008 có 2 đề tài nghiên cứu khoa học.

+ Công tác đào tạo: Bệnh viện tham gia giảng dạy, đào tạo cho sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa, là cơ sở thực hành lâm sàng tâm thần học.

+ Vấn đề hợp tác quốc tế: Bệnh viện đã mở rộng quan hệ hợp tác với Tổ chức VVAF tạo điều kiện giúp đỡ bệnh nhân tái hòa nhập cộng đồng, trong năm Tổ chức Y tế Thế giới đã viện trợ cho bệnh viện máy móc trang thiết bị y tế trị giá 160 triệu đồng.

+ Công tác khác: Bệnh viện đã thành lập Bếp ăn tình thương cho bệnh nhân nghèo từ ngày 19/8/2003. Trong năm 2007, Bệnh viện đã vận động các tổ chức, đơn vị, các nhà hảo tâm ủng hộ bếp được 44.429.100đ tiền mặt, thực phẩm có giá trị tương đương 77.557.000đ và đã cấp 16.597 suất ăn miễn phí với tổng số tiền 236.151.600đ. Trong năm 2008, bệnh viện tiếp tục duy trì hoạt động này và nâng số suất ăn miễn phí từ 50 lên 70 suất/ngày, với giá trị mỗi suất ăn là 12.000đ/ngày.

- Bệnh viện Chuyên khoa Tâm thần Khánh Hòa trong tương lai: Trong năm 2008, bệnh viện đã được UBND tỉnh và Sở Y tế phê duyệt đề án xây dựng Bệnh viện mới quy mô 150 giường và Trung tâm Giám định pháp y tâm thần. Trong tương lai bệnh viện sẽ mở thêm Khoa Tâm căn để giành cho các đối tượng bệnh nhân trầm cảm lo âu, rối loạn dạng cơ thể, các rối loạn tâm căn. Xây dựng Khoa Hoạt động liệu pháp để cho bệnh nhân được tham gia các hoạt động, tái phục hồi chức năng lao động, nghề nghiệp, dạy nghề cho bệnh nhân, giúp bệnh nhân khi ra viện sẽ tái hòa nhập cộng đồng được tốt. Bệnh viện sẽ xây dựng thêm Khoa Tâm thần Nhi để điều trị các loạn thần cho trẻ em đặc biệt các cháu bị tự kỷ sẽ được chăm sóc đặc biệt. Phòng trắc nghiệm tâm lý: hiện tại Bệnh viện đã có test MMPI-2, test đánh giá nhân cách và test đánh giá trí tuệ đo chỉ số IQ. Trong tương lai sẽ có một số test khác được triển khai và áp dụng tại Bệnh viện. Liệu pháp tâm lý nhóm được áp dụng để hổ trợ công tác điều trị.

Bệnh viện phong Quy Hòa

c. Bệnh viện tuyến tỉnh

* Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thừa Thiên Huế

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thừa Thiên Huế được thành lập từ tháng 6.2008, là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Y tế Thừa Thiên Huế, chịu sự quản lý và lãnh đạo toàn diện của Sở Y tế; đồng thời, chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của Cục Khám chữa bệnh, Bộ Y tế.

Đây là một bệnh viện được xây dựng theo nguồn vốn EDCF (Economic Development Cooperation Fund) đã được ký kết trong Hiệp định giữa hai chính phủ Việt Nam - Hàn Quốc, Ngân hàng Korea Eximbank là đơn vị chính cung cấp vốn (khoảng 30 triệu USD). Bệnh viện có tổng vốn đầu tư trên 38 triệu USD (trên 650 tỉ đồng Việt Nam), được thiết kế, đầu tư và chịu trách nhiệm thi công bởi các nhà thầu uy tín quốc tế Hàn Quốc (Posco E&C; Samsung C&T; Aum & Lee Architects), với quy mô dự án 36.000m2 sàn và 500 giường bệnh, tổng số nhân lực y tế dự kiến trên 600 người. Bệnh viện đã được khởi công xây dựng vào tháng 9.2009, dự kiến hoàn thành và đưa vào sử dụng giữa năm 2012. Đây là cơ sở thực hành y tế cao nhất của tuyến tỉnh, cách trung tâm thành phố Huế 19km về phía bắc, với nhiều khoa lâm sàng và cận lâm sàng, liên kết trong công tác đào tạo và khám chữa bệnh với các bệnh viện tuyến trung ương như Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế, phục vụ cho công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận.

* Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng

Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng (BVĐK) được thành lập từ trước năm 1945, với tên ban đầu là Hospital de Danang. Tháng 1.2003, BVĐK Đà Nẵng chính thức được nâng hạng trở thành bệnh viện Hạng I. BVĐK Đà Nẵng là bệnh viện tuyến cuối cùng của thành phố Đà Nẵng, chịu trách nhiệm thu dung điều trị bệnh nhân của thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam và một số tỉnh miền Trung và Tây Nguyên như Quảng Ngãi, Bình Định, Đăk Lăk… Ngoài chức năng khám chữa bệnh, đây còn là cơ sở thực hành của Trường Đại học Y Huế, Học viện Quân y, Trường Cao đẳng Y tế Trung ương 2… BVĐK Đà Nẵng còn mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức nước ngoài, tranh thủ các nguồn viện trợ để nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và giao lưu về chuyên môn, chuyển giao các kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị.

Với chỉ tiêu 850 giường bệnh, hơn 1.200 cán bộ nhân viên bao gồm 31 TS & BSCKII và 204 ThS & BSCKI, tiếp nhận khám và chữa bệnh khoảng 2.000 bệnh nhân mỗi ngày, BVĐK Đà Nẵng đang phải luôn nỗ lực tự hoàn thiện mình để đáp ứng với nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân thành phố Đà Nẵng và khu vực. Được sự đầu tư của UBND thành phố Đà Nẵng cùng với sự viện trợ nhân đạo của nhiều tổ chức từ thiện, đặc biệt là Tổ chức AP và Tổ chức Đông Tây Hội ngộ (Hoa Kỳ) với kinh phí hơn 15 triệu USD, bệnh viện đã được xây dựng lại theo quy hoạch của một bệnh viện hiện đại.

BVĐK Đà Nẵng có trang thiết bị hiện đại, có thể thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán: X Quang kỹ thuật số, CT scan đa lớp cắt đặc biệt là 64 dãy, chụp mạch xoá nền (DSA), Cộng hưởng từ (MRI), chụp cắt lớp đơn quang từ (SPECT), siêu âm màu, siêu âm 4 chiều, nội soi chẩn đoán và can thiệp của các chuyên ngành, đo độ loãng xương bằng kỹ thuật DEXA, hệ thống labô hiện đại về sinh hoá, huyết học tự động, kỹ thuật PCR... Từ năm 2005, BVĐK Đà Nẵng đã triển khai ghép thận; năm 2006 đã triển khai mổ tim hở và đến nay đã phẫu thuật các bệnh tim phức tạp bằng các kỹ thuật sửa van, thay van, sửa chữa dị tật tim. Kỹ thuật can thiệp mạch cũng triển khai song hành như đặt stent, nong mạch, làm TOCE..., đặc biệt là điều trị can thiệp bằng Amplatzer, Coil trong một số bệnh lý tim bẩm sinh. Đến nay Đơn vị Tim mạch cùng với Quỹ Nhân đạo “Trái tim vì trái tim” BVĐK Đà Nẵng đã Phẫu thuật và điều trị can thiệp cho hơn 500 trẻ em bị tim bẩm sinh. Triển khai mổ Nội soi các chuyên ngành Ngoại Tiêu hóa, Tiết niệu, Thần kinh, mổ Nội soi ổ khớp, Sản phụ khoa, Tai Mũi họng... Phẫu thuật đục thuỷ tinh thể bằng Phaco, phẫu thuật tật khúc xạ bằng Laser Excimer. Nội soi can thiệp chích xơ cầm máu, kỹ thuật ERCP... Đặc biệt, đơn vị Vô sinh hoạt động từ năm 2000 đến nay đã đem lại hạnh phúc cho hơn 500 gia đình hiếm muộn.

Hiện nay, BVĐK Đà Nẵng đã ký kết hợp tác về đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật với Đại học UTMB Hoa Kỳ, Rotary Club Nhật Bản, Học bổng Học mãi của Úc, Hội Medical Danang Thụy Sĩ, Hội Trái tim vì Trái tim của Đức, Hội Face the World...       

* Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi

Được thành lập năm 1974 tại Ba Tơ (Quảng Ngãi), hiện Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Quảng Ngãi có quy mô 600 giường bệnh, 31 khoa phòng, được trang bị những thiết bị chẩn đoán, điều trị hiện đại như máy nội soi chẩn đoán, máy phẫu thuật nội soi, máy xét nghiệm sinh hoá tự động, máy thở…các loại.

Bệnh viện hiện có tổng số 569 CBNV phục vụ, trong đó có đội ngũ bác sĩ, dược sĩ đại học có khoảng 128 người (70% có trình độ sau đại học). Bệnh viện hàng năm khám và điều trị cho trên 150.000 lượt người. Với đội ngũ y tế có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, tận tình cứu giúp người bệnh, nhiều năm qua BVĐK Quảng Ngãi luôn giải quyết tốt tất cả các trường hợp cấp cứu nội, ngoại, chấn thương, sản phụ - nhi khoa, các ca tiểu phẫu và đại phẫu phức tạp. Đặc biệt, trong hai năm 2003 - 2004, BVĐK Quảng Ngãi đã triển khai nhiều loại hình dịch vụ kỹ thuật mới nhằm đáp ứng phần lớn nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân như: phẫu thuật chấn thương sọ não, áp xe não, thoát vị đĩa đệm, phẫu thuật nối chi bị đứt lìa, phẫu thuật nội soi u xơ tiền liệt tuyến… đạt kết quả rất tốt, góp phần giảm số lượng người bệnh chuyển tuyến trung ương, giảm đáng kể chi phí cho người bệnh.

* Bệnh viện Đa khoa Phú Yên

Ngày 18.8.2010, tỉnh Phú Yên đã chính thức đưa vào sử dụng Bệnh viện Đa khoa Phú Yên. Đây là cơ sở để người dân Phú Yên được hưởng các dịch vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe tốt hơn trước đây. Trong thời gian qua, nhu cầu khám chữa bệnh của người dân trong tỉnh tăng nhanh, dẫn đến tình trạng quá tải của Bệnh viện Đa khoa cũ. Với việc đưa vào sử dụng bệnh viện mới sẽ giải quyết được tình trạng này, trên hết là đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Bệnh viện Đa khoa Phú Yên mới được xây dựng tại thành phố Tuy Hoà, có quy mô 500 giường bệnh với tổng vốn đầu tư 187,3 tỉ đồng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ. Bệnh viện có cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại với tổng diện tích sàn là 6.767m2 của cả 6 khối nhà, quang cảnh thoáng đãng, nhiều cây xanh. Toàn bộ các khoa khám, chữa bệnh thuộc Bệnh viện Đa khoa Phú Yên cũ được chuyển về Bệnh viện mới. Bệnh viện cũng được các bệnh viện tuyến trên tập trung nâng cao kỹ thuật thay khớp háng nhân tạo; phẫu thuật cắt trĩ theo phương pháp Longo, sóng siêu âm; các loại phẫu thuật nội soi; phẫu thuật sọ não... với mục tiêu hướng đến là bệnh viện có trình độ kỹ thuật cao trong khu vực miền Trung.

* Bệnh xá Đặng Thùy Trâm

Sau gần 4 năm hoạt động, bệnh xá mang tên liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm không những là địa chỉ khám, chữa bệnh cho người nghèo các xã phía Nam huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi), phía bắc huyện Hoài Nhơn (Bình Định) mà còn là địa chỉ dừng chân của du khách trong nước và quốc tế.

Bệnh xá Đặng Thùy Trâm được xây dựng tại vùng đất một thời máu lửa nhưng trung dũng kiên cường, thuộc thôn Nga Mân, xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi), nơi bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã từng gắn bó cả tuổi thanh xuân của mình. Bệnh xá Đặng Thùy Trâm hiện có 15 y, bác sĩ, trong đó có 3 bác sĩ đa khoa, 10 giường bệnh và các thiết bị khám chữa bệnh như máy siêu âm, máy điện tim và các thiết bị khác, đủ khả năng khám, chữa các bệnh nội khoa, sản khoa, siêu âm, điện tim... cho nhân dân 4 xã phía nam huyện Đức Phổ là Phổ Châu, Phổ Khánh, Phổ Thạnh, Phổ Cường. Nhiều bệnh nhân nghèo ở các xã phía bắc huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định cũng được điều trị tại trạm xá này. Tuy chỉ là trạm y tế ở cơ sở nhưng công suất sử dụng giường bệnh của bệnh xá Đặng Thùy Trâm luôn đạt công suất trên 120%. Điều này không chỉ góp phần giảm bớt áp lực quá tải cho y tế tuyến trên mà còn giảm đáng kể chi phí cho người bệnh, nhất là bệnh nhân nghèo.

Trong 10 tháng của năm 2010, Bệnh xá Đặng Thùy Trâm đã thực hiện gần 11.000 lần khám bệnh, gần 2.600 ngày điều trị nội trú, khám, chữa bệnh cho gần 1.000 trẻ em dưới 6 tuổi. Trung bình mỗi tháng có trên 1.000 lượt bệnh nhân được khám, chữa bệnh tại đây. Ngoài hoạt động khám chữa bệnh, Bệnh xá Đặng Thùy Trâm còn thực hiện tốt hoạt động y tế cộng đồng, y tế dự phòng và cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình; trung bình mỗi năm thực hiện kế hoạch hóa gia đình cho gần 2.000 cặp vợ chồng.

Là bệnh xá được xây dựng theo ước muốn của liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm và mang tên người bác sĩ có tấm lòng nhân ái này, ngoài việc thực hiện công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân trong vùng, bệnh xá còn là địa chỉ thu hút hàng chục nghìn lượt du khách đến tham quan mỗi năm.

Bệnh viện ĐK Vùng Khánh Hòa

2.1.2. Các bệnh viện ngoài công lập

* Bệnh viện Phụ nữ Đà Nẵng

Là một trong những bệnh viện đầu tiên ở miền Trung áp dụng những kỹ thuật tiên tiến, hiện đại trong điều trị ung thư vốn lâu nay chưa được chú trọng đầu tư trong khu vực. Diện tích mặt bằng của bệnh viện là 970m2. Trong đó, diện tích xây dựng sử dụng là 4,411,19m2 và diện tích bình quân cho một giường bệnh là 88,2m2.

Bệnh viện Phụ nữ Đà Nẵng hoạt động theo chức năng của một bệnh viện chuyên khoa ngoài công lập (chuyên khoa phụ sản) theo hướng dịch vụ chất lượng cao và hiệu quả; thực hiện theo quy chế của Bộ Y tế hiện hành và vận hành kinh tế - tài chính theo Luật Doanh nghiệp và các bộ luật khác có liên quan. Bệnh viện có khu điều trị nội trú với 50 giường bệnh và khu khám, điều trị ngoại trú bao gồm nhiều phòng khám bệnh vú, khám sản phụ khoa và các phương tiện cận lâm sàng phục vụ cho công tác chẩn đoán và điều trị.

- Chức năng, nhiệm vụ: Hoạt động chuyên môn của Bệnh viện Phụ nữ thực hiện theo quy chế của Bộ Y tế hiện hành và vận hành kinh tế - tài chính theo Luật Doanh nghiệp và các Bộ luật khác có liên quan.

- Nhiệm vụ: Tổ chức cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh; đào tạo cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật; tổ chức nghiên cứu khoa học về y học; phòng bệnh; tham gia các chương trình hợp tác với các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài để phát triển theo quy định của Nhà nước; quản lý kinh tế; thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Bệnh viện giao cho.

* Bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ Đà Nẵng

Công ty cổ phần Bệnh viện Hoàn Mỹ là cơ sở khám chữa bệnh ngoài công lập nằm trong hệ thống Tập đoàn Hoàn Mỹ. Bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ Đà Nẵng tọa lạc ngay trung tâm Thành Phố Đà Nẵng rất thuận tiện cho việc đi lại của người bệnh trong khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

Bệnh viện Hoàn Mỹ có chiến lược đầu tư “one-stop” trong kỹ thuật và  “one-step” trong chẩn đoán. Qui chế bệnh viện phải thật sắc bén, năng động với các qui trình luôn ổn định. Tiêu chí của bệnh viện Hoàn Mỹ là làm sao đem lại lợi ích cho tất cả thành phần trong xã hội cũng như những người tham gia đóng góp vào sự sống còn và phát triển bệnh viện.

Các nhiệm vụ chính yếu của bệnh viện là: Khám chữa bệnh - Nghiên cứu khoa học - Đào tạo - Giáo dục sức khỏe - Quản lý tài chánh - Hợp tác quốc tế.

* Bệnh viện Đa khoa Bình Dân Đà Nẵng

Năm 1996, bệnh viện tư đầu tiên của Việt Nam, có qui mô 50 giường điều trị nội trú, ra đời vào ngày 14.2 và bắt đầu khai trương hoạt động tại địa điểm 158 Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Đà Nẵng, với tên gọi Bệnh viện tư đa khoa Bình Dân. Năm 2007 đến nay: bệnh viện tiếp tục phát triển đi lên bền vững, đoạt được 3 cúp vàng danh dự: “Cúp vàng Thương hiệu và Nhãn hiệu”, “Cúp Sen vàng thương hiệu nổi tiếng Việt Nam và Quốc tế”, “Siêu cúp thương hiệu mạnh và phát triển bền vững”. Giám đốc bệnh viện cũng vinh dự được nhận “Cúp vàng doanh nhân Tâm Tài”, “Giải thưởng Bạch Thái Bưởi và Danh hiệu Doanh nhân đất Việt thế kỷ 21”.

Còn thiếu quá nhiều bệnh viện tư ở Huế, Quảng Nam, và các tỉnh Nam Trung bộ khác. Đề nghị bổ sung

Bệnh viện ung bướu Đà Nẵng

2.2. Cơ sở đào tạo cán bộ y tế trong Vùng duyên hải miền Trung

2.2.1. Công lập

a. Trường đại học

* Trường Đại học Y Dược Huế (06 Ngô Quyền, thành phố Huế)

Trường Đại học Y Dược Huế tiền thân từ Trường Cán sự Y tế và Nữ hộ sinh Quốc gia từ tháng 03.1957. Đến tháng 8.1959, trường được chính thức thành lập với tên gọi Trường đại học Y khoa Huế. Năm 1976, trường được tách ra từ Viện Đại học Huế và trực thuộc Bộ Y tế. Năm 1979, trường hợp nhất với Bệnh viện Trung ương Huế thành Học viện Y Huế kéo dài trong 10 năm. Đến tháng 4.1994, trường trở thành cơ sở trực thuộc Đại học Huế cho đến nay. Đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và nhân viên là 763 người (30.11.2009), trong đó giảng viên là 334 người, và cán bộ quản lý và nhân viên là 429 người.

Trường có 5 khoa là: Khoa Dược, Khoa Răng Hàm Mặt, Khoa Điều dưỡng, Khoa Y tế Công cộng và Khoa Y học cổ truyền; 27 bộ môn trực thuộc là Bộ môn Ngoại, Bộ môn Huyết học, Bộ môn Da Liễu, Bộ môn Sản, Bộ môn Tai Mũi Họng, Bộ môn Tâm thần, Bộ môn Miễn dịch - Sinh lý bệnh, Bộ môn Y học hạt nhân, Bộ môn Gây mê hồi sức, Bộ môn Nhi, Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh, Bộ môn Di truyền Y học, Bộ môn Dược Lý, Bộ môn Giải phẫu học, Bộ môn Truyền nhiễm, Bộ môn Ung bướu, Bộ môn Vi sinh, Bộ môn Nội, Bộ môn Giải phẫu bệnh - Pháp y, Bộ môn Ký sinh trùng, Bộ môn Lao, Bộ môn Mô phôi, Bộ môn Mắt, Bộ môn Phẫu thuật thực hành, Bộ môn Phục hồi chức năng, Bộ môn Sinh hóa và Bộ môn Sinh lý. Năm 2011, trường tuyển sinh với chỉ tiêu 1.020 sinh viên đại học ở các khoa ngành của trường.

Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế được thành lập tháng 10.2002, trên cơ sở nâng cấp Trung tâm nghiên cứu y học lâm sàng, với 350 giường. Bệnh viện thực hành là bệnh viện đa khoa có chức năng nhiệm vụ khám chữa bệnh, đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

* Khoa Y Dược (Đại học Đà Nẵng)

Khoa Y Dược, Đại học Đà Nẵng được thành lập theo Quyết định số 1154/QĐ-TCCB ngày 16.3.2007 của Giám đốc Đại học Đà Nẵng. Việc ra đời Khoa Y Dược thuộc Đại học Đà Nẵng là hướng đi đúng đắn, góp phần thực hiện chủ trương của Nhà nước về xã hội hóa ngành y tế. Đồng thời, đáp ứng được nhu cầu của người dân thành phố, khai thác và sử dụng nguồn nhân lực và cơ sở vật chất hiện có tại địa phương. Quan trọng hơn cả là cung cấp nguồn nhân lực y tế có trình độ cao cho địa phương và các tỉnh thành lân cận. Hướng đến việc xây dựng và đào tạo cán bộ có trình độ chuyên môn cao về y học ngay tại Đại học Đà Nẵng, Khoa Y Dược thực hiện chuẩn hoá ngay từ những bước đi đầu tiên, cải tiến liên tục, hướng đến chất lượng cao trong giảng dạy, học tập để xây dựng được một hình ảnh, một thương hiệu về chất lượng đào tạo.

Mục tiêu hướng đến của khoa là đào tạo cán bộ y tế có chất lượng cho khu vực miền Trung và Tây Nguyên; Đào tạo được lớp cán bộ chuyên môn cao kết hợp kỹ năng ngoại ngữ giỏi; Hỗ trợ tối đa về mọi mặt cho sinh viên giỏi và sinh viên nghèo vượt khó; Tìm kiếm cơ hội đào tạo ở mọi bậc học tại các nước có nền y học phát triển và giới thiệu việc làm cho sinh viên ngay sau khi tốt nghiệp.

b. Trường cao đẳng

* Trường Cao đẳng Y tế Thừa Thiên Huế (01 Nguyễn Trường Tộ, Huế)

Trường Cao đẳng Y tế Huế ngày nay tiền thân là trường Y tá Quốc gia Huế. Trường Y tá Quốc gia có những bước tiến cụ thể là đào tạo y tá và sau đó chuyển thành trường Cán sự y tế điều dưỡng Huế làm nhiệm vụ đào tạo cán sự y tế điều dưỡng và tá viên điều dưỡng. Sau ngày Thừa Thiên Huế giải phóng, ngành y tế tiếp quản 2 trường Cán sự điều dưỡng Huế và trường Nữ hộ sinh, thành lập trường Cán bộ Y tế Thừa Thiên Huế. Tháng 6.1976 hợp nhất 3 tỉnh Bình Trị Thiên, sát nhập lại thành trường Trung học Y tế Bình Trị Thiên. Nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo y sĩ đa khoa, nữ hộ sinh, y tá điều dưỡng phục vụ trên địa bàn 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Đến tháng 7.1989, Trường Trung học Y tế Bình Trị Thiên được đổi tên thành Trường Trung học Y tế Thừa Thiên Huế làm nhiệm vụ đào tạo cán bộ y tế trung học cho 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Đến tháng 11.2005, trường Trung học Y tế Thừa Thiên Huế được nâng cấp thành trường Cao đẳng Y tế Huế theo Quyết định số 6284/QĐ-BGD&ĐT ngày 09.11.2005 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trực thuộc UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.

Trường Cao đẳng Y tế Huế có sứ mạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có trình độ cao đẳng, và các trình độ thấp hơn trong lĩnh vực Y tế; nghiên cứu và phát triển khoa học nhằm phục vụ sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân.

Theo số liệu năm 2011 tổng chỉ tiêu tuyển sinh là 500 sinh viên hệ cao đẳng Nhà trường có 04 ngành đào tạo đó là: Điều dưỡng, Hộ sinh, xét nghiệm y học và Dược

Theo số liệu năm 2011 tổng chỉ tiêu tuyển sinh hệ trung cấp là 400 sinh viên với 07 ngành đào tạo là  ngành Điều dưỡng, Hộ sinh, Y sĩ Y học cổ truyền, Điều dưỡng gây mê hồi sức, Kỹ thuật xét nghiệm đa khoa, Dược sĩ và Y sĩ Y học dự phòng.

* Trường Cao đẳng Kỹ thuật Y tế II (99 Hùng Vương, Hải Châu, Đà Nẵng)

Trường Cao đẳng Kỹ thuật Y tế II thuộc Bộ Y tế là cơ sở giáo dục có nhiệm vụ đào tạo cán bộ y tế có trình độ Cao đẳng và dưới Cao đẳng có chất lượng cao đóng trên địa bàn thành Phố Đà Nẵng; triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc các lĩnh vực: Điều dưỡng; Kỹ thuật y học và Dược; phục vụ đắc lực sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân cả nước, đặc biệt là khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Trường Cao đẳng Kỹ thuật Y tế II phấn đấu đến năm 2012, sẽ trở thành Trường Đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng, đến năm 2020, Trường Đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng là một trong những trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học về các chuyên ngành Điều dưỡng, Kỹ thuật Y học và Dược; có uy tín ngang tầm với các cơ sở đào tạo đại học trong nước và khu vực; đảm bảo cho người học khi tốt nghiệp có đủ trình độ, năng lực phục vụ tốt công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Theo số liệu năm 2011 tổng chỉ tiêu tuyển sinh là 950 sinh viên hệ cao đẳng. Nhà trường có 04 ngành đào tạo đó là: Điều dưỡng (Điều dưỡng Đa khoa, Điều dưỡng Nha khoa, Điều dưỡng Gây mê Hồi sức); Kỹ thuật y học (Kỹ thuật Xét nghiệm, Kỹ thuật Hình ảnh y học và Kỹ thuật Vật lý trị liệu/ Phục hồi chức năng); Hộ sinh và Dược.

* Trường Cao đẳng y tế Quảng Nam (75 Trần Dư, Tam Kỳ, Quảng Nam)

Được thành lập vào năm 2006 theo quyết định số 408/QĐ- BGDĐT ngày 24.01.2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo với nhiệm vụ trọng tâm là đào tạo và nâng cấp đội ngũ cán bộ y tế có trình độ trung học và cao đẳng góp phần đảm bảo nguồn nhân lực y tế phục vụ cho công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân ở các tuyến y tế của tỉnh Quảng Nam cũng như một số tỉnh miền Trung - Tây Nguyên.

Từ ngày thành lập đến nay, nhà trường không ngừng phát triển, trưởng thành và khẳng định được vai trò, vị trí trong việc thực hiện nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực y tế có trình độ, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Từ chỗ có 8 đến 10 lớp học với 03 mã ngành, hiện nay nhà trường có 60 lớp với 2.500 học sinh - sinh viên gồm 09 ngành học, đối tượng học sinh sinh viên đào tạo được mở rộng đáp ứng các yêu cầu xã hội, đặc biệt nhà trường đã chú trọng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực y tế cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn trong tỉnh.

Theo số liệu năm 2011 tổng chỉ tiêu tuyển sinh hệ trung cấp là 400 sinh viên với 07 ngành đào tạo là: Điều dưỡng, Điều dưỡng nha khoa, Y sĩ, Y sĩ y học dự phòng, Y sĩ y học cổ truyền, Dược sĩ, Hộ sinh

* Trường Cao đẳng y tế Bình Định (Số 06, Nguyễn Huệ, Quy Nhơn, Bình Định)

Ngày 09.11.2007 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Quyết định số 7175/QĐ-BGDĐT về việc thành lập Trường Cao đẳng Y tế Bình Định trên cơ sở trường Trung học Y tế Bình Định.

Trường Cao đẳng Y tế Bình Định có chức năng là Đào tạo nguồn nhân lực ở trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn của các chuyên ngành về lĩnh vực y, dược (Điều dưỡng, Hộ sinh, Y sĩ, Dược sĩ và Kỹ thuật viên y học); Đào tạo Nghề (Điều dưỡng sơ cấp, Dược tá, Nhân viên y tế thôn bản); Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng mới về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế trong tỉnh.

Theo số liệu năm 2011 tổng chỉ tiêu tuyển sinh hệ cao đẳng là 200 sinh viên cho ngành điều dưỡng. Trong đó, tổng chỉ tiêu tuyển sinh là hệ trung cấp chuyên nghiệp là 160 sinh viên, với 05 ngành đào tạo là: Điều dưỡng, Hộ sinh, Y sĩ y học cổ truyền, Y sĩ y học dự phòng và Dược sĩ. 

* Trường Cao đẳng y tế Khánh Hòa (84 Quang Trung, Nha Trang, Khánh Hòa)

Tháng 10.2005, Trường Cao Đẳng Y tế Khánh Hòa được thành lập và được Bộ Y tế và Bộ Giáo dục - Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo cán bộ có trình độ Cao đẳng, Trung cấp và Sơ cấp.

Các loại hình đào tạo của Trường hiện nay bao gồm: Về đào tạo Cao đẳng: (5 ngành) Điều dưỡng đa khoa, Dược, Hộ sinh, Kỹ thuật Xét nghiệm, Kỹ thuật Hình ảnh. Về đào tạo Trung cấp: (7 ngành) Y sĩ, Điều dưỡng đa khoa, Hộ sinh, Dược sĩ trung cấp, Kỹ thuật Xét nghiệm, Điều dưỡng Nha khoa, Kỹ thuật viên phục hình răng. Về đào tạo nghề: (3 ngành) Y tá, dược tá, nhân viên xoa bóp.

Trong thời gian tới trường sẽ mở thêm một số ngành, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi thực tế của công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân như: Kỹ thuật Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng, Y tế công cộng; Y học cổ truyền, Y học dự phòng... 

Theo số liệu năm 2011 tổng chỉ tiêu tuyển sinh là 510 sinh viên hệ cao đẳng. Nhà trường có 04 ngành đào tạo đó là: Điều dưỡng, Kỹ thuật y học (chuyên ngành Kỹ thuật hình ảnh y học), Xét nghiệm y học, Hộ sinh và Dược. Theo số liệu năm 2011 tổng chỉ tiêu tuyển sinh là hệ trung cấp chuyên nghiệp là 410 sinh viên, với 06 ngành đào tạo là: Điều dưỡng, Hộ sinh, Y sĩ và Dược sĩ, Điều dưỡng nha khoa, Kỹ thuật viên xét nghiệm. 

c. Trường trung cấp

* Trường Trung cấp Y tế Quảng Ngãi (17, Nguyễn Chánh, Quảng Ngãi)

Theo số liệu năm 2011 tổng chỉ tiêu tuyển sinh là 600 sinh viên, trong đó hệ chính quy là 500 sinh viên và hệ vừa học vừa làm là 100 sinh viên. Nhà trường có 05 ngành đào tạo đó là: điều dưỡng, hộ sinh, y sĩ y học cổ truyển, y sĩ y học dự phòng và dược sĩ.

* Trường Trung cấp Y tế Phú Yên (207 Trần Hưng Đạo, Tuy Hòa, Phú Yên)

Trường Trung cấp Y tế Phú Yên là tên gọi mới nhất của Trường Trung Học Y Tế (cũ), được thành lập quyết định số 21/QĐUB ngày 8.01.1991 của UBND tỉnh Phú Yên, là đơn vị trực thuộc Sở Y tế Phú Yên.

Chức năng của trường: Đào tạo cán bộ y tế các chuyên ngành có trình độ trung học, sơ học; đào tạo lại, bổ túc kiến thức chuyên ngành cho cán bộ y tế cơ sở; nghiên cứu khoa học và phục vụ nhu cầu của xã hội theo chuyên ngành; Liên kết với các trường đại học y, dược để đào tạo đại học và sau đại học cho cán bộ y, dược của địa phương; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo đội ngũ cán bộ y tế.

Theo số liệu năm 2011 tổng chỉ tiêu tuyển sinh là 600 sinh viên, trong đó hệ chính quy là 500 sinh viên và hệ vừa học vừa làm là 100 sinh viên. Nhà trường có 05 ngành đào tạo đó là: điều dưỡng, y sĩ y học cổ truyền, y sĩ y học dự phòng và dược sĩ.

* Hệ trung cấp trong Viện Pasteur Nha Trang (8 Trần Phú, Nha Trang, Khánh Hòa)

Theo số liệu năm 2011 tổng chỉ tiêu tuyển sinh là 90 sinh viên hệ trung cấp ngành kỹ thuật xét nghiệm y học dự phòng và tuyển thí sinh từ Bình Thuận trở ra phía Bắc và 5 tỉnh Tây Nguyên.

2.2.2. Ngoài công lập

* Khoa Y Dược (Trường Đại học Duy Tân)

Với nỗ lực không ngừng mở rộng cơ cấu ngành nghề đào tạo, Đại học Duy Tân đã trở thành cơ sở đầu tiên ở Đà Nẵng đào tạo Cử nhân (Đại học) ngành Điều dưỡng từ năm 2010. Khác với các chương trình Điều dưỡng truyền thống khác trong cả nước, chương trình điều dưỡng ở Duy Tân xây dựng dựa trên cơ sở tham khảo chương trình đào tạo Điều dưỡng của Đại học Seatle Pacific (Mỹ), hướng đến triển vọng xuất khẩu lao động điều dưỡng cao cấp ra nước ngoài. Cơ sở thực hành Điều dưỡng của Duy Tân vì vậy đã được đầu tư với những trang thiết bị tối tân, còn cơ sở thực tập thực tế của trường là tại Bệnh viên Đa Khoa Đà Nẵng và Quân y viện C17.

3. Quy hoạch phát triển mạng lưới y tế toàn Vùng

3.1. Định hướng chung

 Củng cố và phát triển mạng lưới y tế dự phòng có đủ khả năng dự báo, giám sát, phát hiện, khống chế và dập tắt các dịch bệnh, kể cả các bệnh nguy hiểm mới phát sinh. Tăng dần tỉ trọng đầu tư cho y tế dự phòng, chủ động phòng chống dịch, tiến tới giải quyết căn bản các bệnh nhiễm khuẩn; thanh toán bệnh phong, loại trừ bệnh uốn ván ở trẻ sơ sinh, chủ động phòng chống các bệnh tim mạch, huyết áp, tiểu đường, tâm thần, HIV-AIDS..; đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh thực phẩm, an toàn lao động.

Hoàn thành xây dựng trung tâm y tế chuyên sâu trong vùng tại Huế và Đà Nẵng để cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao. Mở rộng, nâng cấp các bệnh viện đa khoa ở mỗi tỉnh. Phát triển các bệnh viện chuyên khoa và khoa học, kỹ thuật y tế để phát hiện và điều trị có hiệu quả các bệnh lây nhiễm. Đẩy mạnh việc thành lập thêm các bệnh viện và phòng khám đa khoa tư nhân trong vùng.

Phát triển, nâng cao năng lực đào tạo của các trưởng đại học Y dược và viện nghiên cứu trong vùng. Xây dựng Đại học Y Huế trở thành đại học trọng điểm vùng và thành lập Đại học Dược Huế. Nghiên cứu mở Khoa Y ở Đại học Đà Nẵng, Đại học Quy Nhơn và Đại học Nha Trang. Có chính sách thu hút đầu tư hợp lý để phát triển công nghiệp dược và sản xuất trang thiết bị y tế tại các khu công nghiệp trong vùng.

Đến năm 2020, cùng với việc hiện đại hóa trang thiết bị, chất lượng giường bệnh, tăng tổng số giường bệnh của toàn vùng lên 56-57 nghìn giường, đạt 25 giường/10.000 dân (bằng mức trung cả nước).

3.2. Củng cố và phát triển bệnh viện tuyến một, hai và ba

a. Tuyến 1: Mỗi khu vực cụm dân cư huyện, liên huyện có một bệnh viện đa khoa huyện hoặc bệnh viện đa khoa khu vực (liên huyện) đạt tiêu chuẩn tối thiểu hạng III (quy mô 50-100 giường).

b. Tuyến 2: Bao gồm các bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa tỉnh, bệnh viện đa khoa liên huyện tuyến tỉnh. Các bệnh viện tuyến 2 là cơ sở thực hành cho các trường y, dược trong các tỉnh, thành phố. Mỗi tỉnh có ít nhất một bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh, thành phố hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng I (quy mô mỗi bệnh viện từ 500 đến 1.000 giường). Củng cố và phát triển các bệnh viện chuyên khoa như phụ sản, nhi, tâm thần và y học cổ truyền của các tỉnh một cách thích hợp. Đến năm 2020, tất cả các tỉnh trong vùng đều có bệnh viện phục hồi chức năng. Các bệnh viện này có nhiệm vụ phục hồi chức năng cho bệnh nhân sau chấn thương, chăm sóc người cao tuổi, kết hợp du lịch và chăm sóc y tế.

c. Tuyến 3: Bệnh viện tuyến ba bao gồm các bệnh viện trung ương và một số bệnh viện đa khoa lớn của các tỉnh:

* Tại Thừa Thiên Huế: Hoàn thành đầu tư xây dựng Bệnh viện Trung ương Huế trở thành bệnh viện vùng, cơ sở của trung tâm y tế kỹ thuật cao và là bệnh viện thực hành của Đại học Y Huế; Xây dựng mới bệnh viện đa khoa ở phía bắc thành phố Huế, phát triển thành bệnh viện trung tâm.

* Tại Đà Nẵng: Xây dựng mới Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng (tại địa điểm khác so với địa điểm hiện tại của Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng) theo hướng kỹ thuật chuyên sâu để làm nhiệm vụ của bệnh viện vùng và trung tâm y tế kỹ thuật cao; Mở rộng, nâng cấp bệnh viện C Đà Nẵng (thuộc Bộ Y tế) để phục vụ cán bộ trung cao cấp khu vực miền Trung và Tây Nguyên; Đầu tư xây dựng Bệnh viện Y học dân tộc tại địa điểm mới; Đầu tư xây dựng mới Bệnh viện Lao và Phổi.

* Tại Quy Nhơn (Bình Định): Phát triển Bệnh viện đa khoa (700 giường) thành bệnh viện Hạng 1 và đóng vai trò bệnh viện vùng.

* Tại Nha Trang: Phát triển Bệnh viện đa khoa (700 giường) thành bệnh viện hạng 1, đóng vai trò bệnh viện vùng của khu vực Duyên hải Nam Trung bộ.

3.3. Mạng lưới y tế dự phòng

Nâng cấp, hiện đại hóa phòng xét nghiệm an toàn sinh học tại viện Pasteur Nha Trang đạt cấp 3 theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và đảm bảo sản xuất vaccin đạt tiêu chuẩn quốc tế phục vụ nhu cầu tiêm chủng mở rộng trong nước và xuất khẩu.

Xây dựng phòng xét nghiệm dinh dưỡng và kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm tại Đà Nẵng và Nha Trang.

Củng cố, nâng cấp và hiện đại hóa mạng lưới trung tâm y tế dự phòng cấp tỉnh (mỗi tỉnh có một trung tâm y tế dự phòng), cấp huyện (mỗi huyện có một cơ sở làm công tác y tế dự phòng) và cấp cơ sở (thuộc chức năng của trạm y tế xã/phường).

Tổ chức các trạm kiểm dịch y tế tại các cửa khẩu biên giới đất liền và các cảng quốc tế.

3.4. Các việc khác

Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ y tế các tuyến. Chú trọng đào tạo cán bộ chuyên sâu, dược sĩ , đào tạo cán bộ tại chỗ cho y tế cơ sở; gắn đào tạo với sử dụng, có chính sách ưu đãi đối với cán bộ  y tế tuyến xã và vùng sâu vùng xa.

Xã hội hóa công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe. Tăng chi ngân sách cho hoạt động y tế. Lồng ghép các chương trình, mục tiêu trong cùng lĩnh vực (Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và y tế) để nâng cao hiệu quả đầu tư.

Đảm bảo tính công bằng xã hội trong tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe cho mọi đối tượng, tầng lớp dân cư.

Tăng cường công tác thông tin, giáo dục sức khỏe, đưa nội dung y tế vào phong trào xây dựng làng văn hóa…

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội – Vùng bắc trung bộ và duyên hải miền trung thời kỳ 2011-2020.

2. Niên giám Thống kê của 7 tỉnh: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.

3. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của 7 tỉnh: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.

4. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -  xã hội Dải ven biển miền Trung Việt Nam đến năm 2020.

5. Cổng thông tin điện tử Sở Y tế Thừa Thiên Huế: http://syt.hue.gov.vn

6. Cổng thông tin điện tử Sở Y tế Đà Nẵng: http://soyte.danang.gov.vn

7. Cổng thông tin điện tử Sở Y tế Quảng Nam: http://www.soyteqnam.gov.vn

8. Cổng thông tin điện tử UBND tỉnh Quảng Ngãi: http://www.quangngai.gov.vn

9. Cổng thông tin điện tử Sở Y tế Bình Định: http://syt.binhdinh.gov.vn

10. Cổng thông tin điện tử Sở Y tế Phú Yên: http://www.phuyen.gov.vn/wps/portal/soyte

11. Cổng thông tin điện tử Sở Y tế Khánh Hòa: http://www.soytekhanhhoa.gov.vn

12. Cổng thông tin điện tử bệnh viện Trung ương Huế: http://www.bvtwhue.com.vn

13. Cổng thông tin điện tử bệnh viện Đà Nẵng: http://dananghospital.org.vn

14. Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng: http://www.danang.gov.vn

15. Cổng thông tin điện tử bệnh viện Phong - Da Liễu Quy Hòa: http://www.quyhoandh.org.vn

16. Cổng thông tin điện tử trường Cao đẳng Kỹ Thuật Y Tế II: http://www.yt2byt.edu.vn

17. Cổng thông tin khoa Y Dược, Đại học Đà Nẵng: http://www.fmp.udn.vn

18. Cổng thông tin trường Cao đẳng y tế Bình Định: http://www.caodangytebinhdinh.edu.vn

 

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
Tin đọc nhiều
51.209 lượt xem - 14.12.2011 : 0:24p
24.624 lượt xem - 08.03.2012 : 10:58p
23.145 lượt xem - 07.03.2012 : 16:35p
22.611 lượt xem - 20.09.2012 : 8:27p
19.224 lượt xem - 14.12.2011 : 0:37p
16.672 lượt xem - 08.03.2012 : 11:09p